Nguyễn Đức Tùng
12/3/2021

bản edited, nhân tưởng niệm phu nhân nhà thơ Nguyễn Đình Toàn, nhũ danh Nguyễn Thị Thu Hồng, qua đời ngày 24. 2. 2021 tại Hoa kỳ.



Khi em về bước xưa chừng xa lạ
Và cỏ hoa tất cả đã vắng im
Giấc ngủ ấy một đời anh ao ước
Từ máu mình hoài rứt khỏi đường tim

Hầu hết tình yêu đều thất bại, nhưng đó là sự bất thành quyến rũ. Cũng như xã hội tự do, nơi sinh ra thơ tình hay nhạc tình của những Nguyễn Đình Toàn, Vũ Thành An, Phạm Thiên Thư, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, sẽ thất bại.  Có những giây lát trong đời sống khi cái bình thường, sự vật hàng ngày, trở nên huyền diệu. Một cánh cửa, cái bắt tay, khói trên mặt nước, khuôn mặt lạ trong đám đông. Trong những thời khắc như thế, chúng ta xúc động và sự xúc động mang một người đi xa tới nơi mà sự lượng giá, thấu hiểu giao hòa với ký ức. Ký ức trong trường hợp này không phải là hoài niệm, tức là sự nhớ lại và thương xót một chiều, mà là cơ sở của sự xem xét lại đối với đời sống hiện tại. Vì vậy ký ức sinh ra từ tình huống trầm cảm giam giữ con người trong bóng tối, ký ức của tâm trạng lành mạnh mang họ đi ngược lại, về phía tương lai. Ở những bài thành công nhất, thơ Nguyễn Đình Toàn là thơ của những giây phút như vậy.

Anh đến thăm em đêm ba mươi
Còn đêm nào vui bằng đêm ba mươi
Anh nói với người phu quét đường
Xin chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em

Lời trong ca khúc, cũng là bài thơ độc lập. Hình ảnh của Nguyễn Đình Toàn giàu có, nhưng khá quen thuộc; nhiều lên một chút, như ở vài bài khác, thơ ông sẽ thành ước lệ, thậm chí mòn sáo. Tràn ngập những hình ảnh của tuổi thơ chúng ta, nông thôn và thành phố. Ông ít có những hình ảnh mới, xa lạ, thách thức. Hà Nội của ông cũng có vẻ thiên nhiên điền dã. Nguyễn Đình Toàn là một trường hợp đặc biệt khi thơ, văn, nhạc hòa vào nhau làm một. Lời trong nhiều ca khúc của ông là các bài thơ. Bất cứ cách thẩm định nào về ông chỉ nói về một khía cạnh sẽ gặp khó khăn, đôi khi không làm được. Như trong bài sau đây.

Tình vui theo gió mây trôi
Ý sầu mưa xuống đời
Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
Mấy tuổi xa người
Ngày thần tiên em bước lên ngôi
(Tình Khúc Thứ Nhất)

Đây cũng là ca từ Nguyễn Đình Toàn viết cho bản nhạc cùng tên của Vũ Thành An, khi hai người cùng làm trong Đài phát thanh Sài Gòn, năm 1965. Bài bắt đầu với nhịp đi thong thả và chuyển động nhanh lên ở những câu sau. Sự mô tả một cách sinh động các khung cảnh, sự kết hợp các hình ảnh, làm cho ký ức trở thành giọng điệu chính của bài thơ: thận trọng, thư giãn, đều đặn. Đây còn là một câu chuyện kể. Có những khoảng cách giữa các câu trong bài Tình khúc thứ nhất, có lẽ do nhu cầu viết ca từ cho nhạc, nhưng bất kể hoàn cảnh sáng tác ra sao, đó vẫn là một bài thơ, vì vậy các khoảng cách này làm cho bài thơ giãn nở kỳ lạ, làm cho chúng chứa được nhiều các hình ảnh bí mật, những liên thông ngấm ngầm, sức gợi ý mạnh, ít thấy. Sự chuyển động liên tục của các câu thơ với độ dài ngắn khác nhau diễn tả sự thay đổi trong tâm trí của người viết từ những ký ức dựa trên hình ảnh đến những liên tưởng xa hơn trong thực tại, sự tiên đoán mơ hồ về số phận của cá nhân và dân tộc. Cảm xúc phức tạp trong bài thơ làm cho nó trở thành một trong những tình khúc hay nhất xưa nay.

Đã nghe son vàng tả tơi
Trầm mình trong hương đốt hơi bay

Chữ Nguyễn Đình Toàn khá thuần Việt, nhưng nghe như có âm hưởng Hán Việt, vì quý phái. Quá đi một chút, thơ ông có thể thành điệu đà. Trong thơ ấy có cả nỗi buồn già cỗi, chết người, ốm yếu, của một người từng trải và dễ xúc động, và một thứ tình yêu trẻ trung, ngây thơ. Chất lãng mạn trong thơ Nguyễn Đình Toàn có sự chiêm nghiệm của một người nhìn thấy rõ mặt trái của lịch sử, bên trong của tội ác, cảm giác âu yếm gần như thương xót đối với cái đẹp, đối với quê hương, đối với một người con gái. Cũng có những câu gần văn xuôi, nhưng ông ít khi rời bỏ tính âm nhạc của thơ. Ông đi tìm ở những vần thơ cảm xúc sự suy nghĩ sâu xa, sự chính xác của lịch sử, đi tìm giọng điệu thích hợp cho một người trong khi ca hát về vẻ đẹp cuộc sống thì cũng than khóc cho nó. Trong văn xuôi, Nguyễn Đình Toàn cũng vậy, thơ mộng, tình tứ; và những người phụ nữ, các nhân vật rất đáng nhớ trong tiểu thuyết của ông, có thể nghèo khó nhưng không tủi nhục. Giọng văn ẩn mật, không nặng về chủ nghĩa hiện thực, và quan điểm nghệ thuật có lẽ gần với Khái Hưng của Tự lực văn đoàn: lấy ước mơ làm chủ đạo, lấy cái đẹp làm mục đích, khen ngợi hơn là chỉ trích, xây dựng hơn là đả phá, chuyển động về phía tốt đẹp. Tuy nhiên về nghệ thuật tiểu thuyết, ông đi xa hơn so với tiền chiến. Tôi từng say mê “Giờ Ra Chơi”, một cuốn tiểu thuyết rất mới vào thời đó, văn xuôi nhiều chất thơ. Tôi cũng đọc nhiều lần đoạn mở đầu này của “Áo Mơ Phai”:

“Hà Nội 1954

Tháng Sáu chưa hết, nhưng mùa Thu đã đầy hơi lạnh. Buổi chiều từ trong văn phòng bước ra tới cửa Tòa Đô Chính, Quang đã có thể trông thấy sương mù trên mặt hồ Gươm.

Cái mặt nước xanh biếc, nhìn qua một lớp sương mới hôm nào đỏ rực như than hồng, vì in bóng những cây phượng vĩ, những cây phượng chỉ bẵng đi mấy bữa chàng quên không để ý đến, lúc nhìn lại đã rụng hết cả hoa lẫn lá, chỉ còn trơ những cành đen đủi in trong bóng yên lặng xuống mặt hồ và bầu trời ẩm đục.

Tháp Rùa, trong ánh sáng còn sót của một ngày, giữa những lớp sóng lăn tăn, trông như đã lún sâu thêm xuống đáy hồ.”

Văn ông trầm tư mà sáng sủa, trang nhã. Lắng nghe âm thanh của chữ, lắng nghe lời trò chuyện, ta hiểu rằng những gì quý giá nhất của quê hương thanh bình hay loạn lạc đang được truyền lại giữa những dòng chữ ấy. Và những âu lo, dằn vặt, chọn lựa khó khăn của người Hà Nội vào trước lúc phân ly đất nước, tháng 6 năm 1954, một cuộc phân ly gần như vĩnh viễn. Đó là thứ văn chương thuộc “dòng ý thức”(stream of conciousness), với phương pháp độc thoại nội tâm của ngôi thứ nhất hoặc phương pháp diễn tả nội tâm của ngôi thứ ba, nhưng được viết sáng sủa, khúc chiết, dù trong những câu rất dài.

“Trong những cơn gió tẩm đắm hơi nước thổi thốc từ cái mặt sông mênh mông dưới bãi cát lên đầu tóc người đàn bà bay phất phới, ông đã muốn tháo bỏ nàng ra khỏi mọi sự che đậy, muốn trải nàng trên những ngọn cỏ lấp lánh ánh sao, muốn yêu nàng cuồng bạo như một tên vô lại. Ông muốn thấy rộng dài như bãi. (*)

Một thi pháp tiểu thuyết mới mẻ, một văn phong Proustian dịu dàng, suy tư sâu về lịch sử, những thăm dò bí mật tâm hồn. Đó là thứ bí mật của tình yêu mênh mông, không hề gìn giữ, nhưng người đọc như tôi thì quá nhỏ bé, quá xa xôi, ngày càng xa những nơi chốn ấy. Mặc dù thế, không có một người nào từng làm cho tôi yêu Hà Nội bằng tác giả “Áo Mơ Phai”, có lẽ chỉ sau Khái Hưng. Đối với ông, tác giả, và tôi, độc giả, Hà nội như một quê hương Việt Nam, như một ẩn dụ, và tình yêu là một ngôn ngữ: hình ảnh của Nguyễn Đình Toàn tạo ra liên tưởng làm cho tâm trí tôi hoạt động. Tuy vậy, so với văn xuôi, thơ của ông ít khai phá hơn.

Khi em trở về
Mộ người yêu đó
Hoa trên phiến đá
Cỏ buồn ngón chân
Và cơn gió rét
Que diêm bật lên

Sự vật trong thơ được nhân cách hóa, khiến cho buổi trưa thành tuổi nhỏ, con đường cỏ mục thành nỗi u hoài, bóng nắng ngọt ngào thành tiếc nuối, nỗi buồn phải thắp lên. Nguyễn Đình Toàn là giọng thơ u tối, buồn phiền, như thể không phải vì ông muốn thế mà vì thời đại đáng buồn như thế, lịch sử đáng âu lo như thế, con người đáng thương như thế. Thơ trữ tình nặng về cảm xúc nhưng không phải là không có những giây phút mà ý thức bùng vỡ, chiếu sáng. Sự tưởng tượng là thiêng liêng vì nó mang con người đến với cái đẹp tuyệt đối, đến với sự thương tiếc cao quý. Trước sự tàn phá văn hóa của các tội ác và bạo động trong mấy mươi năm nay, người viết chỉ còn có thể giữ lại cho mình và cho độc giả lòng tin vào một thế giới đã biến mất, tức là sự bướng bỉnh, và tình yêu đối với tuổi trẻ, tức là lòng hoài niệm.

Mai tôi đi mong cho tình xa quê
Mong cho người về được nơi sẽ đến
Ta chia tay ta chia trời xé biệt
Còn được bao dấu vết nhớ nhau tìm

Tình yêu quê hương là cảm giác thuộc về, cảm thấy bạn là một phần nhỏ bé của cái lớn hơn, cái toàn thể. Cảm giác ấy chống lại sự đứt rời, tan vỡ, phân liệt. Cũng như tình yêu nam nữ, tình yêu gia đình, quê hương, đất nước đều có thể được làm mới lại mỗi ngày, đều có thể được gieo xuống và gặt lên.

Kỷ niệm cũ vẫn còn nguyên vẹn đó
Trời tháng giêng, tháng bảy buồn như nhau
Gió vẫn thơm mùi hoa bưởi, hoa ngâu
Rồi tết đến, rồi lòng anh nhớ quá

Những câu thơ đều đặn với vần điệu cân đối như trên đọc lên như bài hát ru; trong khi những câu dài ngắn khác nhau ở những bài thơ hay ca từ khác của ông tạo ra động lực, sự bồi hồi, nôn nóng, lo âu. Tôi tin rằng có những mạch thơ ngầm nơi mỗi cá nhân, và chúng nối vào tha nhân. Chính những mạch ngầm này tạo ra an ủi, liên kết. Nhờ sự liên kết ấy trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ sự liên kết ấy trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Thơ và nhạc dễ trở thành tiếng nói thiêng liêng vì đó là tiếng nói trực tiếp của tâm hồn; chúng không tạo ra bất kỳ một niềm hy vọng giả dối nào: hầu hết chúng đều buồn. Con người chấp nhận sự thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà vẫn suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, của tình yêu, ý nghĩa của đau khổ. Tìm kiếm ý nghĩa của đau khổ: tức là tìm kiếm an ủi và hy vọng.

Hãy thắp cho anh một ngọn đèn
Một ngọn đèn trăm năm
Rồi thả đèn trôi trên dòng sông

Như tháng giêng trong đêm nguyệt rằm
Người thả đèn trôi sông
Cầu nguyện cho những ai trầm luân

Xét về mặt số lượng sáng tác, ảnh hưởng trên văn đàn, Nguyễn Đình Toàn là một nhà tiểu thuyết, nhưng không hiểu sao khi đọc, tôi vẫn tin rằng ông trước hết là một nhà thơ, của tình yêu và quê hương. Có lẽ sự phối hợp giữa thơ và văn xuôi ở ông là sự phối hợp đẹp, làm cho một số trang tiểu thuyết sắc bén mà lãng đãng và một số bài thơ như một thứ siêu hiện thực, hay thơ hiện thực được nâng lên, cũng không hẳn là siêu thực, nhưng vượt quá cõi đời, chia ly, tang tóc, vượt quá sự hủy diệt.

Trên hoang vu những vầng mây trắng
Ta nghe ra trăm niềm xót xa
Vai em thơm như mùa thu nắng
Phai bao nhiêu máu hồng tình xa
(Chiều trong tù)

Thơ ông không chỉ để đọc trên giấy mà để đọc lớn thành lời, để ngâm, để hát. Thời trước, khi còn nhỏ, nghe chương trình Nhạc Chủ Đề thứ năm hàng tuần trên đài phát thanh Sài Gòn, tôi có ấn tượng mạnh về giọng nói của ông. Có hai giọng nói gây ấn tượng cho nhiều thính giả  thời ấy: Đinh Hùng và Nguyễn Đình Toàn, cách nhau khoảng mười năm. Nguyễn Đình Toàn là người yêu nhạc Trịnh Công Sơn, vì nếu tôi nhớ không lầm, ông đã hát, và trong chương trình phát thanh, ông đã nhiều lần giới thiệu nhạc Trịnh một cách trang trọng.

Thực ra, ông cũng có những câu thơ ước lệ, cách nói cổ điển, hình ảnh quá cũ kỹ. Nguyễn Đình Toàn mau chóng vượt qua chúng, nhưng chỉ vượt qua mà không đi quá xa, như trong những trường hợp khác, ví dụ Thanh Tâm Tuyền; ông vẫn ở gần khuynh hướng thẩm mỹ của những năm sáu mươi trong nhiều bài thơ sau đó. Ngạc nhiên và khám phá không phải là điểm mạnh của thơ ông, nhưng chúng có tồn tại giữa những câu thơ trữ tình mượt mà, êm như ru. Khi ngạc nhiên, bạn dừng lại, đứng sững, và nhìn. Ngạc nhiên làm những định kiến tan vỡ, làm tâm trí bạn sáng lên, cái nhìn vào sự vật trở nên sắc sảo, lòng thương xót lịch sử được làm mới lại, các mối quan hệ nhận lấy một luồng sinh khí mới.

Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như giòng sông nước quẩn quanh buồn 
như người đi cách mặt xa lòng 

Từ mấy mươi năm nay, lịch sử đã chia hai. Người Việt cũng trở nên khác hẳn nhau. Rời bỏ quê hương như Nguyễn Đình Toàn là rời bỏ nhiều lần, lần đầu rời Hà Nội vào Sài Gòn, lần thứ hai từ Sài Gòn qua Mỹ, và sau lần thứ hai, ông rơi vào một thế giới khác, một nền văn hóa khác, lần thứ nhất là mất nửa quê hương, lần thứ hai là cả quê hương, lần thứ ba là mất linh hồn. Với ông, không còn gì nữa, phần đời sau là vô nghĩa. Đó có lẽ cũng là tâm trạng của Mai Thảo, Nguyên Sa, Phạm Đình Chương, Thanh Tâm Tuyền và những người thuộc thế hệ ông, không hẳn vì họ không thể tiếp nhận cái mới, mà vì phần đời trước đó của họ đã được sống quá đầy đủ, quá dịu dàng lộng lẫy, không cần phải thêm vào một thứ ý nghĩa gì nữa. Mà chắc gì tồn tại hôm nay của người Việt đã có ý nghĩa gì, hay chỉ là sự kéo dài vô nghĩa? Công việc của những người như Nguyễn Đình toàn giờ đây là kể lại câu chuyện của thế hệ mình. Cảm giác thuộc về một thế giới khác, vàng son, thuộc về một không khí khác, lồng lộng, làm cho thi sĩ trở thành một phần của cái toàn thể, một phần tử hữu dụng. Cái đẹp trong thơ ông không đứng một mình, nó nhắc chúng ta về hiện hữu của chính nó, tức là hiện hữu của một thời đại tự do, thanh bình. Sự hiện hữu của chúng là điều kiện bắt buộc của cái đẹp, thanh bình là điều kiện của một tình yêu thiêng liêng. Như Sài gòn trước đây của “Đồng Cỏ” và Hà nội trước đó nữa của “Áo Mơ Phai”. Trong thơ ông, tình yêu là vĩnh viễn, mặc dù ông ít khi dùng những chữ trầm trọng để nói về điều ấy. Khi rời đất nước, ông nói lời chia tay, như đứt ruột mà xa.

Mai tôi đi, tôi đi vào sương đen
Sương rất độc, tẩm vào người nỗi chết
Quê hương ta sống chia giòng vĩnh biệt

Khi một thi sĩ đi xa, người ấy muốn chúng ta nhớ về họ như nhớ tác giả một bài thơ, như nhớ chính bài thơ ấy. Ký ức của chúng ta về họ là cách mà chúng ta hiểu về bài thơ của họ. Công việc của người đọc là đọc và đọc lại, tìm kiếm những ý nghĩa, thông điệp, cố ý hoặc vô tình, gởi đến hôm nay từ tình yêu xứ sở, từ tình yêu đối với mhững giá trị dân tộc tốt đẹp đã mất.

“Quê hương”, hai tiếng đó nặng nề đến như vậy sao? Khi tóc người đã bạc, bao nhiêu màu sắc thắm tươi của đời lặn sâu cả vào tâm khảm, tô đậm thêm có mỗi cái hình ảnh đó sao?” 

Tôi mời bạn đọc thêm một đoạn trong Đồng Cỏ. Và những ý nghĩ làm nên tính thơ của chúng, chứ không phải vần điệu.

“Tôi không được nhìn thấy Hà Nội mưa, nhưng tôi chắc Hà Nội không thể có cái mưa Sài Gòn. Hà Nội nhìn thấy lại qua những tấm ảnh, Hà Nội trong văn chương, Hà Nội nghe kể lại, đều có một vẻ gì ẻo lả. Mưa trên cái ẻo lả đó, chắc hẳn phải là thứ mưa buồn bã.

Mưa Sài Gòn mạnh khỏe hơn.

Cây cối ướt sũng, đường phố dù có chỗ nước chưa thoát hết chảy xối trong các ống cống, nhưng Sài Gòn giống như một người đàn ông có sức lực, mưa không đủ làm cho phải ngừng hoạt động. Nhà cửa nhìn thấy không có vẻ lạnh lẽo. Những từng nhà cao ngất, xe cộ qua lại, hàng quán đông đúc, phố xá san sát tựa những bắp thịt trên bộ ngực nở nang, trên cánh tay rắn chắc.”

Một nhà thơ cố gắng nói một điều gì mà anh cảm nhận được trong một thời khắc và địa điểm cụ thể. Bài thơ viết vào lúc ấy là đời sống của tác giả vào lúc ấy. Vì vậy, một thời khắc phải được dừng lại, một nơi chốn phải được tạo nên, trên trục tọa độ, nếu không như vậy sẽ không có một người nào biết được cảm xúc ấy. Cảm xúc của tác giả về một thời gian và không gian càng mạnh mẽ thì bài thơ càng có hình dạng, thể, rõ ràng, vững chãi, ngược lại khi nhà thơ không có cảm xúc rõ rệt về hai chiều kích ấy, bài thơ chỉ là sự tưởng tượng thuần túy, chưa được đời sống thổi linh hồn của nó vào. Những bài thơ tự do được viết rất nhiều hiện nay và những bài thơ có vần, bảy chữ, tám chữ, lục bát, ngày càng ít đi, thực ra có khả năng như nhau trong khả năng cảm nhận thế giới nội tâm và bên ngoài, trong khả năng đo lường và sử dụng những chiều tự do n của cảm xúc. Đó là sự giao hòa lý tưởng giữa thơ tự do và thơ có vần, giữa quá khứ và lượng giá, giữa hoài niệm và phản kháng, hỗn độn, có thật, xấu xa và tốt đẹp, đầy năng lượng. Trong ý nghĩa đó, thơ và lời trong ca khúc của Nguyễn Đình Toàn, tuy với số lượng không lớn so với tiểu thuyết của ông, vẫn chạm được tay vào đời sống mỗi ngày của chúng ta hôm nay. Hình ảnh trong tôi về Nguyễn Đình Toàn là con đường mòn thơm lá mục. Một trong những khả năng lạ lùng của bài thơ là tiết lộ những bí mật của nó, không phải qua một lần mà nhiều lần đọc, có khi bạn đã thuộc, nhưng việc đọc lại cũng dẫn bạn đi theo một kinh nghiệm khác, con đường khác. Các tác phẩm nghệ thuật đều có tính chất như thế, đó là lý do vì sao ngày trước các vở tuồng thường được diễn đi diễn lại nhiều lần: người đọc không đến xem tuồng để biết câu chuyện kết thúc ra sao vì họ đã biết rồi, mà để xem các diễn viên diễn xuất ra sao. Nhưng cũng không phải chỉ có thế, vì đối với các nghệ thuật ngoài sân khấu, chẳng có ai diễn cả thì chính người đọc tự diễn lấy, tức là tự mình sống lấy kinh nghiệm của nhân vật. Thơ Nguyễn Đình Toàn là thơ của thời những năm sáu mươi của miền Nam; sau này ông còn làm nhiều bài thơ khác nhưng với một nghệ thuật không thay đổi. Ông không phải là người có khuynh hướng cách tân. Số lượng tác phẩm thơ cũng không lớn lắm, so với tiểu thuyết, nhiều bài nhiều người chưa biết, một phần vì thi sĩ là người lặng lẽ. Các chủ đề mà ông nói tới không phải là những vấn đề thời sự trước mắt, ở chúng có một không khí thân mật, những tiếng động quen thuộc, mở ra nhiều chiều kích, phía trước và phía sau, bên ngoài và bên trong. Đó là một loại thơ chủ quan, nặng riêng tư, từ ngữ đẹp, đôi khi như tiếng thì thầm, đôi khi như lời hát. Trong một số bài chữ dùng của ông chính xác, đẹp, không thay thế được. Trong bài Tình khúc thứ nhất, các câu thơ dài ngắn khác nhau nhưng không phải là thơ tự do.  Các câu thơ đều đặn khác lại tựa như những nhịp cầu bắc qua sông Hồng hùng vĩ, nối Gia Lâm nơi ông sinh ra và Hà nội nơi ông nhớ về, nối hoài niệm và hôm nay, tình yêu và mất mát, cay đắng và lòng tự trọng, tính yếu đuối và sự phản kháng dữ dội. Thơ trữ tình hôm nay nuôi dưỡng tình yêu quê hương và khai mở sự thấu hiểu: đó là một công việc gấp đôi và mới mẻ. Sự hiểu biết, sự chia sẻ của chúng ta quan trọng hơn những khác biệt lịch sử, lập trường chính trị và văn hoá.

Em còn yêu anh, còn yêu anh
Cây còn xanh, còn tươi đầy kỷ niệm
Mái trường xưa mỗi mùa phượng đến
Ve còn kêu vang, còn kêu vang

Vì vậy thơ trữ tình không phải chỉ là quá khứ, thơ ấy còn là xúc cảm mà chúng tạo ra ở người đọc hôm nay, trẻ tuổi, ngân vang thức tỉnh, là quá khứ muốn được sống lại và chắc chắn sẽ sống lại, để đánh thức và kêu gọi. Tuy vậy, tiếng nói thân mật ấy, cảm thông, tâm sự, cũng có khi là lời độc thoại, hay nói với nhân vật không có mặt. Ông trò chuyện với ký ức, với bạn bè, với người tình, như những ẩn dụ về một nơi chốn, dù đã xa, vĩnh viễn còn đó chờ đợi chúng ta trở về. Nguyễn Đình Toàn giữ lại cho mình một ngôn ngữ cổ điển, dịu dàng nhưng cô độc, buồn nhưng nhân từ, đôi khi đau đớn nhưng nhiều tha thứ. Thơ và ca từ của ông không dữ dội như Trần Dạ Từ, không sầu khổ như Du Tử Lê, mà đằm sâu, lưu luyến, nhắc nhở, như thể tôi có thể để bài thơ của ông ở đó một mình mà đi chỗ khác, đi làm việc khác, nhưng khi trở lại, giai điệu của nó vẫn còn đó, mỉm cười bao dung, như thiên nhiên của quê hương quen thuộc, như trầm hương một thuở của chúng ta, như đời sống, chờ khi cất tiếng.

Khi em về trời xanh và gió mát
Con đường mòn thơm lá mục quê hương
Vườn cải ngồng dỗ ong bướm về sân
Anh nằm đấy buổi trưa và tiếng nắng
 
Mặt đất mềm bước chân em chợt nặng
Lá tre vàng dồn thổi mùa thu đi
Luống huệ ấy xòe những vồng hoa trắng
Và đầy thềm lá rụng liếp phên che

Tôi nhớ đọc bài thơ Khi Em Về đã nhiều năm, đến khi đọc lại vẫn nguyên cảm giác ấy, như vừa mới viết hôm qua: sự chia sẻ của những người mất quê hương, dù đang ở đâu, trong nước hay ngoài nước, ở xa hay ngay trên làng cũ của mình. Đó sức mạnh của văn chương sinh ra từ ký ức tự phát (involuntary memory). Trong khi những hình ảnh của ông ngày nay không còn nữa, thì ký ức mà nó tạo ra vẫn còn ở với chúng ta lâu dài, lòng thương nhớ ấy tăng cường, làm đậm nét các hình ảnh, làm cho sự trở về trở thành nỗi ao ước của mỗi người Việt Nam.

Nguyễn Đức Tùng

(*) (https://vietmessenger.com/books/?title=ao%20mo%20phai)

Nguồn: https://damau.org/67821/nguyen-dinh-toan-khi-em-ve-troi-xanh-va-gio-mat

Bình luận

Lời Bàn Mới

  • TIẾNG HÁT HOÀNG OANH
    Trần quốc Tuấn 18.09.2021 17:35
    Hay quá
     
  • THANH THÚY 25 - TIẾNG HÁT THANH THÚY
    Trần quốc Tuấn 10.09.2021 22:42
    Mình cũng đanh tìm..Giờ còn Anna 5..Anna 6 và Hồn hoang 2 ..4..7 .
     
  • Người Đàn Bà Đi Nhặt Mặt Trời
    Kim tiến cũng thật tuyệt vời 04.08.2021 20:54
    Đọc phân tích của bạn tôi quá xốc. Cái mà bạn tưởng tượng nó có thật đấy. Giờ đây nó đang vận vào ai ...
     
  • NGƯỜI CON GÁI TRONG TRANH
    Phan Van 02.08.2021 20:51
    forum.phunuviet.org/.../ (http://forum.phunuviet.org/yaf_postst983_Hoang-Thi-Bich-Ngoc.aspx) Đây ...
     
  • NGƯỜI CON GÁI TRONG TRANH
    Phan Van 02.08.2021 20:50
    Mình click nút play ngay bài số 1. Vậy là tuần tự chạy hết list nhạc. Thông tin về Hoàng Thị Bích ...

Đăng Nhập/Xuất