Bài viết

9. Tạp Ghi Quỳnh Giao

Suối Nguồn Tân Nhạc: Khuynh hướng cổ động, và nhạc chiến dịch

Quỳnh Giao

Trong lịch sử có hơn 60 năm của tân nhạc Việt Nam, đất nước đã trải mấy chục năm binh đao.

Vẫn biến rằng chiến chinh là bất đắc dĩ, nhưng nhu cầu chiến tranh cũng đòi hỏi việc cổ vũ tâm lý, cho nên tân nhạc đã được huy động cho chiến trường, như điều vẫn có ở trong mọi xã hội con người... Tuy nhiên, xét cho kỹ, ta có thể thấy rằng nếu trong thời kỳ 45-54, đa số những bài hát ngợi ca tổ quốc và kêu gọi lên đường cứu nước đều tự phát vì được viết ra từ niềm hứng khởi dạt dào của mọi người - có lẽ lúc đó chưa phân giới tuyến chính trị mà chỉ nhìn vào kẻ thù chung là thực dân xâm lược - thì qua giai đoạn sau đó, khi hai bên Nam Bắc đều có chính quyền, ta có thể thấy rõ hơn cái nỗ lực chủ động tuyên truyền của hai chế độ đối nghịch.

Xem tiếp...

Suối Nguồn Tân Nhạc: Khuynh hướng hoài hương

Quỳnh Giao

Trong thời gian 60 năm vừa qua, có hai lần mà cả mấy triệu người đã lìa xa quê hương yêu dấu của họ. Lần đầu vào năm 54, lần sau vào năm 75 và những năm kế tiếp...

Khi gợi lại suối nguồn tân nhạc và các trào lưu sáng tác, ta không thể không nhắc tới nhiều tác phẩm được viết ra từ hai lần đau thương ấy. Nói chung, thể tài chính được âm nhạc ghi lại nhiều nhất vẫn là nỗi hoài niệm và ước mơ trở về quê cũ. Quỳnh Giao xin được gọi chung là những ca khúc hoài hương...

Năm 1954, khi đất nước bị chia đôi từ Hiệp Định Genève, có đông đảo các nhạc sĩ đã di cư vào Nam. Đa số trong lớp này cũng là nhạc công, và ở trong Nam, họ đóng góp nhiều cho tân nhạc cải cách qua môi trường hoạt động chính yếu là các đài phát thanh và các buổi nhạc hội hay chiếu bóng có phụ diễn văn nghệ. Ngoài những người như Hoàng Trọng hay Ngọc Bích đã nổi danh tại miền Bắc trước 54, thì những tên tuổi như Đan Thọ, Nguyễn Hiền hay Nhật Bằng, Lê Trọng Nguyễn cũng nổi lên. Trong khi nhạc Lê Trọng Nguyễn kén người nghe và đa số lại gần với xu hướng bán cổ điển mà chúng ta đã nhắc tới kỳ trước, thì Nhật Bằng, Đan Thọ và Nguyễn Hiền là tiêu biểu của lớp người viết nhạc trong Nam để nhớ quê hương miền Bắc...

Xem tiếp...

Suối Nguồn Tân Nhạc: Khuynh Hướng Lãng Mạn Thời Phát Huy

Quỳnh Giao

Quỳnh Giao xin thân ái kính chào quý vị,

Nếu trong thời kỳ đầu của nền tân nhạc, các nghệ sĩ đã viết về những mối tình e ấp kín đáo, như sự nín lặng với Cô Hàng Hoa, mối tình câm với Cô Láng Giềng, như nỗi bâng khuâng của Cây Ðàn Bỏ Quên vì không biết rằng người đẹp "yêu tôi hay yêu đàn," hoặc lời nhắn gọi vu vơ, với "ai lướt đi ngoài sương gió, không dừng chân khiến em bẽ bàng"... của Buồn Tàn Thu, thì từ đầu thập niên 50 trở đi, các nhạc sĩ tiên phong của chúng ta đã mạnh dạn hơn trong xu hướng nhạc tình.

Ðây là thời kỳ cực thịnh của thể tài lãng mạn về tình yêu mà Ðặng Thế Phong đã mở đầu và Văn Cao đã khai triển. Sau những bài tự tình hiền hòa của lớp người đi trước, các nhạc sĩ trẻ của thời đó đã viết những lời ca nồng nàn ướt át hơn. Nỗi niềm riêng tư của họ cũng có vẻ tha thiết đam mê hơn. Quỳnh Giao muốn nói tới xu hướng lãng mạn thời phát huy của thập niên 50, một thời cực thịnh và có nhiều ảnh hưởng nhất của tân nhạc...

Xem tiếp...

Suối Nguồn Tân Nhạc: Khuynh hướng tình cảm thời phôi thai

Quỳnh Giao

Ngay từ đây, ta đã có thể nói rằng thể tài lớn nhất, gây cảm hứng sáng tác cho đông đảo các nghệ sĩ chính là tình yêu. Trong một phần sau, ta sẽ đặc biệt tìm hiểu về năm tác giả tiêu biểu nhất cho xu hướng này...

Ngoài những tác phẩm ngợi ca tình yêu, nếu tân nhạc là nguồn hứng mới của nghệ sĩ trong bộ môn âm nhạc, thì trong nguồn cảm hứng chung đó, ta có thể phân biệt được chín thể tài được nhiều nhạc sĩ cùng khai thác một cách tự phát, mà Quỳnh Giao xin giới thiệu qua các ca khúc tiêu biểu nhất của họ, như một lời ghi ơn đối với nghệ sĩ sáng tác.

Xem tiếp...

Suối Nguồn Tân Nhạc: Khuynh hướng yêu nước - Từ thanh niên ca tới kháng chiến ca

Quỳnh Giao

Quỳnh Giao xin thân ái kính chào quý vị,

Trong gần hai thập niên, sự hình thành và phát triển của tân nhạc đã hòa lẫn với hai phong trào lớn của xã hội, đó là phong trào thanh niên khởi lên từ giữa thập niên 30 và tiếp nối là cuộc kháng chiến bùng lên từ giữa thập niên 40. Trong giai đoạn đó, chúng ta đã chứng kiến sự giao thoa tuyệt vời giữa tân nhạc và mệnh nước, với bài ca tuổi trẻ mở đường khai lối cho kháng chiến ca.

Quỳnh Giao xin được gọi chung hai loại đề tài thanh niên và kháng chiến đó là các ca khúc yêu nước...

Có thể là vì động lực chính trị của chính quyền thuộc địa, mà cũng có thể vì đáp ứng lòng khát khao của nhiều thế hệ sau những chấn động chính trị của năm 30, từ giữa thập niên 30 trở đi, ta đã thấy xuất hiện phong trào ngợi ca tuổi trẻ. Sau đó, khi kháng chiến bùng nổ, dòng nhạc thanh niên đã hòa chung với dòng nhạc yêu nước, và các bản thanh niên ca của Hoàng Quý, Lưu Hữu Phước hay Hùng Lân đã khơi ngòi cho các bản chiến trường ca bất hủ thời 45-54, với Văn Cao, Ðỗ Nhuận hay Phạm Duy, Phan Huỳnh Ðiểu...

Xem tiếp...

Andrew Lloyd Webber - Tuổi trẻ tài cao

Quỳnh Giao
27.6.2006

The Phantom of the OperaNgười ta kể là thời xưa, Andrew Lloyd Webber ngưỡng mộ đảng Bảo Thủ của Anh. Khi đảng thắng cử, ông ăn mừng bằng cách... tự thưởng một bức cổ họa trị giá mấy chục triệu bạc! Bạc đây là đồng Anh kim, còn nặng hơn đồng Mỹ kim.

Ông có thừa khả năng ấy vì là nhà sưu tầm cổ họa, có nguyên một bộ tranh trị giá mấy trăm triệu Mỹ kim. Hiện nay, ông là một trong gần trăm người giàu nhất Anh Quốc, tài sản chừng một tỷ Mỹ kim. Ông còn được hoàng gia phong là Nam Tước, Baron Lloyd-Webber và có một bộ sưu tập gần hai chục giải thưởng đáng nể nhất về nghệ thuật.

Nhưng Andrew Lloyd Webber không nổi tiếng ở những chuyện... ngoài da đó.

Ông nổi tiếng là nhà soạn nhạc thành công và thành công nhất ở một vở opera làm người ta nổi da gà vì thích hơn là vì sợ.


Xem tiếp...

Ban Tuổi Xanh năm xưa

Quỳnh Giao
18.7.2011

Mới đây, người viết nhận được tấm hình ban Tuổi Xanh do Phạm Duy Ðức gửi tặng.

Ban Tuổi Xanh
Hình Ban Tuổi Xanh, trừ hai ông bà Phạm Ðình Sĩ và Kiều Hạnh. Có ghi số: 1. Bích Chiêu;
3. Mai Hương; 4. Mai Hân; 5. Bạch Tuyết (em Mai Hương); 6. Ðoan Trang (Quỳnh Giao);
7. Kim Chi; 8. Tuấn Ngọc; 10. Quốc Thắng. (Hình: Quỳnh Giao cung cấp)

Ðức là con trai út của cặp nghệ sĩ Thái Hằng-Phạm Duy, gửi với lời nhắn là giúp Ðức tìm ra tên từng người trong hình. Thoạt kỳ thủy, chỉ nhận ra hai bác Phạm Ðình Sĩ và Kiều Hạnh, còn trong bầy nhi đồng thì nhận ra ngay chính mình ngày bé mà thôi.

Xem tiếp...

Barenboim: Khúc đàn Thanh bình

Quỳnh Giao
22.8.2006

Daniel Barenboim Con người có thể mắc bệnh điên chứ Daniel Barenboim thì tự chọn một cách điên.

Hôm 22 Tháng Tám vừa qua, ông biểu diễn nghệ thuật ấy tại đất Andalusia gần thành phố Séville của Tây Ban Nha, hôm sau bệnh của ông tái diễn tại thủ đô Âu Châu, thành phố Bruxelles của Bỉ.

Ông là một nhạc trưởng xuất chúng người Do Thái đã kiên trì tổ chức những buổi hòa nhạc gồm các nhạc công mà bình thường ra thì đang có mặt ngoài chiến trường, để bắn vào nhau. Dàn nhạc của ông gồm những nhạc sĩ trẻ, người Do Thái, Palestine và Á Rập. Và họ chơi nhạc để tìm cách vãn hồi hòa bình giữa hai sắc dân Do Thái và Á Rập.

Xem tiếp...

Chắp Cánh Cho Nhạc

Quỳnh Giao
2.6.2008

Clint Eastwood là một nghệ sĩ đa diện. Ông là diễn viên điện ảnh, đạo diễn và nhà sản xuất nổi tiếng thế giới mà cũng là người yêu nhạc, sành nhạc và viết nhạc. Các tác phẩm điện ảnh do ông thực hiện đều mang một dấu ấn riêng, là có phần nhạc rất đặc sắc.

Năm 1971, trên tột đỉnh danh vọng của nghề diễn xuất, Clint Eastwood bước qua bên kia ống kính làm nhà đạo diễn với phim "Play Misty for Me". Cuốn phim lập tức nổi tiếng với không khí đậm đặc và tiếng dương cầm thánh thót của Errol Gardner trong bài Misty mà mọi người yêu jazz đều biết, và ưa thích.


Errol Gardner trình bày Misty

Xem tiếp...

Dương Thiệu Tước, mạch tương lai láng chờ phím ngân trùng

Quỳnh Giao

Trong một dịp bình nghị về nhạc, Phạm Duy đã phát biểu, rằng vào đầu thập niên 40 khi Văn Cao và Phạm Duy còn viết nhạc với âm thanh chuỗi như trong Cung Đàn Xưa hay Khối Tình Trương Chi, thì người đó đã tài tình hòa cả thất cung lẫn ngũ cung trong một khúc tình ca diễm tuyệt. Người mà Phạm Duy nhắc tới đó, chính là Dương Thiệu Tước.



Khúc hát làm Phạm Duy cảm phục mãi tới giờ chính là Trời Xanh Thẳm, mà Dương Thiệu Tước đã viết từ năm 1939. Và Phạm Duy nhớ bài ca vô cùng, vì do nghe Thái Hằng ngây ngất với Trời Xanh Thẳm mà ông đã bị cú sét ái tình... và Thái Hằng trở thành bà Phạm Duy từ đó...

Xem tiếp...

Đăng Nhập/Xuất