3.1 Cải Lương

Cuộc đời ngoại hạng của nghệ sĩ Phùng Há

Nguyễn Phương
31.7.2011

Phùng Há


Nữ nghệ sĩ Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo, sanh ngày 30 tháng 4 năm 1911 tại làng Điều Hòa, tổng Thuận Trị, huyện Châu Thành Tỉnh Mỹ Tho, Việt Nam. Bà mất ngày 05 tháng 7 năm 2009, tại nhà riêng xây trong khuôn viên chùa Nghệ sĩ Gò Vấp, Saigon, hưởng thọ 99 tuổi.

Sinh thời, bà kể, năm 12 tuổi, Phùng Há sống với bà ngoại mù và người mẹ thường đau yếu luôn nên Phùng Há phải đi mò lạch, kiếm cá, tép về làm cái ăn giúp mẹ. Một bà hàng xóm thương tình, dẫn Phùng Há đến làm công in gạch trong lò gạch của ông Bang Hoạch ở xóm cầu đúc lộ số 7, châu thành Mỹ Tho,, tiền công in 100 viên gạch được ba xu. Phùng Há in gạch rất khổ nhọc mà chẳng được bao tiền, buồn nên vừa làm vừa hát nghêu ngao, không ngờ những người làm công gần đó nghe thích nên yêu cầu Phùng Há ca cho họ nghe, họ in gạch thế cho Phùng Há.

Xem tiếp...

Giọng ca vàng Hữu Phước

Nguyễn Phương
26.6.2011

Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Bạch Lan
Nghệ sĩ Hữu Phước (trái) và Út Bạch Lan
Mở đầu loạt bài cổ nhạc : Soạn giả Nguyễn Phương từ Canada giới thiệu giọng ca vàng của cố nghệ sĩ Hữu Phước. Vào năm 1966, Hữu Phước từng đoạt giải Diễn Viên xuất sắc nhất nhân kỳ trao Giải thưởng Thanh Tâm, nhờ vai bác sĩ Vũ trong vở tuồng Đôi Mắt Người Xưa của Nguyễn Phương.



Năm 1955, tôi là soạn giả của đoàn hát Kim Thoa của ông bà bầu Ngô Thiên Khai và nữ nghệ sĩ Kim Thoa. Ngày 19 tháng 12 năm 1955, khi đoàn hát Kim Thoa khai trương vở tuồng dã sử Lấp Sông Gianh của soạn giả Kinh Luân tại rạp hát Nguyễn

Xem tiếp...

Nghệ sĩ Năm Châu: nguồn sáng tạo vô tận cho cải lương và điện ảnh Việt Nam

Ngành Mai - Thông tín viên RFA
2011-06-06



S Phùng Há hóa trang cho NS Năm Châu
NS Phùng Há hóa trang cho
NS Năm Châu trước buổi diễn
Nghệ sĩ Năm Châu người gốc ở Mỹ Tho, học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu, thi đỗ bằng Thành Chung nhưng không làm việc cho cơ quan chính quyền thời Pháp, mà say mê về kịch nghệ.

Từ "Quan Âm Thị Kính" tới "Người đẹp Bình Dương"

Ông thành lập đoàn Việt Kịch Năm Châu và hoạt động mạnh thời thập niên 1940 – 1950 chuyên diễn tuồng xã hội do chính ông trước tác, tuy mang nhiều ý nghĩa, nhưng sân khấu không có gì mới lạ, thành thử ra không cạnh tranh nổi với các gánh thành lập sau này có những loại tuồng Nhật, tuồng Á Rập, tuồng hương xa. Cốt truyện các loại tuồng nói trên tuy không mang ý nghĩa thực tế, nhưng lại màu sắc, lại có những cảnh sôi động, những màn đánh kiếm, đấu dao găm, và những tuồng thuộc loại chiến tranh của gánh Hoa Sen đã thu hút hết khán giả. Thành thử ra gánh Năm Châu thưa dần người đi coi hát, khiến ông nợ nần chồng chất, bắt buộc phải cho gánh hát về nằm ụ ở trại cưa phía bên kia Cầu Bông, đường đi Bà Chiểu, Gia Định.

Tuy xuống dốc bên cải lương, nhưng Năm Châu lại làm ăn được phía bên điện ảnh, và ở lãnh vực này ông đã làm gì, thành công ra sao?

Xem tiếp...

Năm Châu: Cuộc đời như sân khấu (kỳ 2)

Nguyễn Phương

Kỳ 2 - Nữ nghệ sĩ tài danh Kim Cúc: người vợ thứ ba của Năm Châu

Nữ nghệ sĩ Kim Cúc, con gái lớn của nghệ sĩ tiền phong Bảy Nhiêu là người vợ cuối của anh Năm Châu, từ 1948 cho đến ngày anh mãn phần, tháng 5 năm 1977. Anh Năm Châu lớn hơn chị 16 tuổi. Nếu biết gia thế của chị Kim Cúc, biết cả một quá trình lâu dài của chị khi mới chập chững theo đoàn hát cải lương đến khi thành danh, thì đối với một người lớn tuổi hơn mình rất nhiều, đối với một người từng là bạn thân thiết của cha mình mà chị chấp nhận kết hôn, phải thấy đó là do sự thán phục, lòng say mê nghệ thuật đưa đến tình yêu chân chính.

Năm Châu và Kim Cúc đều có chung một niềm say mê, một ước vọng chung là xây dựng một nền nghệ thuật cải lương "Đẹp" và "Thật", một "Thánh đường thiêng liêng".

Xem tiếp...

Năm Châu - cuộc đời như sân khấu

Nguyễn Phương

Lời chú của AmNhac.fm: Nguyễn Phương là người đã từng cộng tác chung dưới bảng hiệu đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga trong 3 thập niên 1940-1970. Ông đang định cư tại Canada và từng phụ trách mục Cổ Nhạc của đài phát thanh RFA trong nhiều năm. Bài này trích trong quyển Ngũ đại gia của sân khấu cải lương của ông Nguyễn Phương, là một công trình biên soạn công phu với nhiều bài viết có giá trị và nhiều tư liệu quý giá của ông. Bài này viết về cuộc đời của soạn giả, đạo diễn, diễn viên, ông bầu Năm Châu (tức Nguyễn Thành Châu).

Năm ChâuTrong lịch sử sân khấu cải lương miền Nam, khi nhắc đến tên những nghệ sĩ tiền phong có công khai sáng và vun bồi cho nền ca kịch cải lương, thì tên tuổi của nghệ sĩ Năm Châu phải được kể ở hàng đầu, trước những tên tuổi lẫy lừng của các nghệ sĩ tài danh cùng thời.

Nhắc tới anh Năm Châu thì hầu như trên lĩnh vực nào của sự hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu cải lương, cũng được người trong giới nghệ sĩ nhìn nhận anh là người đầu đàn, đã khai sáng và đóng góp công lao nhiều nhất.

Anh vừa là một diễn viên kỳ tài, có nhiều vai tuồng để đời, vừa là một soạn giả có nhiều tuồng hay, vừa là đạo diễn sân khấu đầu tiên áp dụng kỹ thuật tân tiến của sân khấu phương Tây vào nghệ thuật sân khấu Việt Nam.

Xem tiếp...

Sáu mươi năm mối tình dở dang của đôi nghệ sĩ tài danh: Phùng Há – Năm Châu

Nguyễn Phương
2007

Phùng HáNhững lần về thăm quê hương, người đầu tiên trong các bạn bè mà chúng tôi đến thăm là cô Bảy Phùng Há. Cô cư ngụ ở chùa Nghệ Sĩ, Gò Vấp. Cô Bảy Phùng Há là biểu tượng đáng tôn kính của ngành nghệ thuật sân khấu cải lương. Cô vừa là chứng nhân, vừa là người có công lao lớn trong việc làm nên lịch sử sân khấu cải lương Việt Nam nhưng cuộc đời cô cũng lắm nỗi đa đoan. Cô và nghệ sĩ Năm Châu – những con người tiền phong cố gắng xây dựng một nền cải lương "Đẹp"... những năm tháng trên sân khấu, những vai diễn, những thông cảm và thấu hiểu đã kết nên một mối tình dù không trọn vẹn nhưng cuối cùng Tình Yêu và Nghệ Thuật đã kết tinh thành một khối ngọc trong sáng.

- Thưa cô Bảy, cô đã cống hiến trọn đời cho sân khấu cải lương, cô Bảy có nhớ những gì về thời thơ ấu của cô không?

Xem tiếp...

Soạn giả Hà Triều Hoa Phượng

Ngành Mai, thông tín viên RFA
29.5.2011

à Triều Hoa Phượng


Trong hoạt động sân khấu cải lương, cái tên Hà Triều Hoa Phượng đã quá quen thuộc với khán giả, do bởi những vở tuồng nổi tiếng của 2 soạn giả này được lần lượt cho ra đời từ những năm cuối thập niên 1950, và dài cho đến hết thập niên 1960.

Thế nhưng, trong trường hợp nào mà hai thầy tuồng này kết hợp với nhau để tô điểm cho vườn hoa nghệ thuật dân tộc thêm tươi đẹp, nền ca kịch nước nhà thêm phong phú.

Xem tiếp...

Soạn giả Nguyễn Phương, người soạn tuồng nổi tiếng của Việt Nam

Phạm Điền, RFA
28.7.2004

Một bộ môn sân khấu phong phú và có lẽ được yêu chuộng nhất của người dân miền Nam Việt Nam là sân khấu Cải Lương. Nó phong phủ ở những điểm nào? Được yêu chuộng vì lẽ gì? Đó là những khía cạnh được soạn giả lão thành Nguyễn Phương đề cập đến trong tạp chí Văn Học Nghệ Thuật kỳ này.

Đây là bô môn nghệ thuật giá trị và độc đáo, vốn văn hóa của miền đồng bằng Nam Bộ mà nếu không được nhắc đến, e rằng sẽ bị mai một. Đó là một di sản văn hóa lớn trong ngành nghệ thuật sân khấu của nước Việt.

Về vấn đề này, tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Đài Á Châu Tự Do hân hạnh được soạn giả Nguyễn Phương dành cho một cuộc phỏng vấn, xin mời quý thính giả theo dõi:

Xem tiếp...

Tráng sĩ Kinh Kha bán cơm tấm ở dạ cầu Chữ Y

Ngành Mai
18.4.2011

Cô Năm Cần Thơ, ca sĩ cổ nhạc được liệt vào hàng nghệ sĩ tiền phong với Năm Châu, Phùng Há và nổi danh trước cả những Út Trà Ôn, Năm Nghĩa, Kim Chưởng, Thúy Nga... Là giọng ca sáng giá ở lãnh vực thu dĩa hát với những bài vọng cổ: Con Chim Họa Mi, Thoại Ba Công Chúa, Mổ Tim Tỷ Cang, Ðắc Kỷ Thọ Hình, Anh Hùng Liệt Nữ v.v...

Những năm đầu thập niên 1950, cô Năm Cần Thơ được Tướng Bảy Viễn cho mở quán nhậu trong khuôn viên Ðại Thế Giới, và các ca sĩ, nhạc sĩ tài tử cổ nhạc thờ bấy giờ rất thường lui tới ca hát nên khá đông khách. Nghệ sĩ Hữu Phước trước khi nổi tiếng cũng đã từng giúp việc trong quán cô Năm, một thời gian

Sang qua thập niên 1960 trong khi các nghệ sĩ thế hệ đàn em trẻ hơn như Hữu Phước, Thành Ðược, Út Bạch Lan, Kim Chưởng, Thanh Hương đương thời tấn lên ngự trị sân khấu cải lương thì cô Năm Cần Thơ đã lui vào bóng tối hậu trường.

Xem tiếp...

Nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bài Dạ cổ hoài lang[2]

Bùi Thụy Đào Nguyên

Phần II - Dạ cổ hoài lang.

Giải thích tên gọi: "Hoài là nhớ, lang là người trai (ở đây là người chồng), hoài lang là nhớ chàng, dạ là đêm, cổ là trống, dạ cổ là nghe tiếng trống về đêm (? cổ, nghĩa là trống hoặc đánh trống). Đây là một bản nhạc cổ do nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892-1976) sáng tác, nói về tâm sự người vợ nhớ chồng lúc về đêm.

Từ bản Dạ cổ hoài lang mỗi câu 2 nhịp, các nghệ sĩ sau này chuyển lên 4 nhịp rồi 8 nhịp, mà thành bài vọng cổ đầu tiên...

2. 1. Nguyên nhân ra đời

Theo một bài viết trên báo Thanh Niên (1), không đề tên tác giả, thì:

Ông Cao Văn Lầu (1892-1976) đã thổ lộ với bạn thân:

"Tôi đặt bài này bởi tôi rất thương vợ. Năm viết bản Dạ cổ hoài lang , tôi đã ăn ở với vợ tôi được 3 năm mà không có con...Tiếng ra, tiếng vào của gia đình buộc tôi phải thôi vợ, nhưng tôi không đành. Tôi âm thầm chống lại nghiêm lệnh của gia đình, không đem vợ trả về cho cha mẹ mà đem gởi đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu..."

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất