3.2 Hát Bội & Bài Chòi

Bài Chòi Bình Định

Đào Đức Chương

Các tỉnh miền Trung từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, đâu đâu cũng biết chơi bài chòi. Nhưng nhiều nhất là ở Bình Ðịnh, có thể nói, đây là cái nôi của trò chơi lý thú này.

Cứ vào dịp Tết Nguyên đán, khắp miền quê, hội bài chòi được tổ chức trong khoảng thời gian dựng nêu, tức từ 30 tháng chạp đến mồn 7 Tết. Ðôi khi cuộc chơi kéo dài đến rằm tháng giêng âm lịch, tức từ Tết Nguyên đán đến Tết Thượng nguyên.

SỰ HÌNH THÀNH

Vùng đất Vijaya trở thành lãnh thổ Việt Nam từ năm 1471, dân các tỉnh phía Bắc vào định cư còn thưa thớt, nơi đây rừng núi rậm rạp đan xen với chuỗi đồng bằng nhỏ hẹp, việc trồng tỉa thường bị tàn phá bởi thú hoang. Trên những vạt đất khai khẩn, phải dựng nhiều chòi có người canh giữ, bảo vệ hoa màu. Ðể được an toàn, các chòi phải vững chắc, sàn cao quá tầm tấn công của mãnh thú và bố trí theo hình vuông, chữ nhật, hay hình thuẫn tùy theo địa hình để tiện thanh viện cho nhau. Trên mỗi chòi đều có thanh la, mõ, trống; khi thú rừng kéo đến, các âm thanh đồng loạt nổi lên rung chuyển cả rừng núi, dã thú dù gan lì đến đâu cũng phải khiếp sợ bỏ chạy và không dám bén mảng đến phá phách. Rồi có những đêm trăng thanh gió mát, đối cảnh sinh tình, giữa các chòi người ta dùng loa nói chuyện hay ca hát đối đáp nhau cho giải buồn, dần dần trở thành một mô hình sinh hoạt văn nghệ ở vùng nương rẫy.

Xem tiếp...

Tản Mạn Về Hát Bội Bình Định

Võ Ngọc Uyển


Nói về quê hương Bình định, người ta thường nghĩ ngay đến các anh hùng liệt sĩ đã làm vang danh rạng rỡ trong lịch sử Việt nam: Quang Trung Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi thị Xuân, Ngô tùng Châu, Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ v.v... Nơi đó cũng là cái nôi của Võ thuật miền Trung được diễn tả đấy đủ trong câu ca dao:

Ai về Bình định mà coi
Con gái Bình định cầm roi đi quyền

Và cũng là nơi phổ biến thịnh hành tuồng Hát bội.
  
1.- Trước tiên, danh từ Hát bội và nghệ thuật Tuồng có từ thời nhà Trần nước ta (1226-1399).

  
Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược với ba trận đánh khốc liệt, Hưng Ðạo vương Trần Quốc Tuấn bắt được ông Lý Nguyên Cát người Trung hoa, ông này có tài về hát tuồng diễn kịch, giao cho tướng Trần Nhật Duật tổ chức các đội hát tuồng để ủy lạo, giúp vui cho tướng sĩ. Danh từ Hát bội có từ đó, vì cách tổ chức trình diễn theo lối bát điệu (tám mặt), hình thức tám cái sân khấu đâu lưng nhau, quay mặt ra tám hướng theo hình bát quái: Tây Bắc, chánh Bắc, Ðông bắc, chánh Ðông, Ðông Nam, chánh Nam, Tây Nam, chánh Tây. (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài). Một đội tuồng gồm tám đoàn nhỏ, rất đông đào kép, nghệ sĩ. Tám sân khấu đều hát chung một tuồng, cùng một lúc. Hướng Tây Bắc dành cho vua, gia đình của vua và các quan đại thần thưởng lãm vì hướng này thuộc Càn tượng trưng cho Trời (Thiên tử: vua là con của Trời), các cửa sân khấu khác dành cho các hạng tùy theo thứ bậc, phẩm hàm, của các quan trong triều kể cả gia đình thứ dân, do vậy người nào cũng được xem ở bất cứ hướng nào, nên người ta gọi là hát bội. Bội là gấp lên, nhân lên, như một tấm gương phản chiếu hình ảnh khắp mọi nơi. Ví dụ: hát tuồng Cổ thành (Quan Công phò nhị tẩu) thì khi đến lớp tuồng Trương Liên lên giáo đầu (khổ đầu) thì cả tám sân khấu đều có nhân vật Trương Liêu cùng vẽ đúng một khuôn mặt, quần áo, mũ hia đều giống nhau.
  

Xem tiếp...

Làng Nho Bình Định Với Nghề Hát Bội

Đặng Quí Địch
 
Hát bội là một bộ môn nghệ thuật trình diễn đã có từ lâu đời, mà cũng từ lâu đời người làm nghề này bị xem là "xướng ca vô loại". Từ đời Lê đã có lệ cấm con em nhà hát xướng đi thi nên Ðào Duy Từ mới bỏ đất Bắc hà vào huyện Hoài nhơn rồi trở thành ông tổ nghề hát tỉnh ta. Người làm nghề này thì được gọi chung một từ là "Lê viên tử đệ = con em vườn Lê", hoặc theo vai họ sắm trên sân khấu mà gọi là "kép, lão" cho đàn ông, "đào, mụ" cho đàn bà. Lắm khi họ không ngần ngại mà gọi bằng thằng bằng con. Nguyễn Khuyến trong một bài thơ dịch đã viết: "Thú vui con hát lực chiều cầm xoang". Nhưng miệt thị độc địa nhất phải kể đến hai bài thơ "Vịnh phường hát Bội" của hai thi sĩ trong Nam sống nửa sau thế kỷ XIX.

BÀI MỘT:

Nhỏ mà chẳng học, lớn nghinh ngang!
Trống gióng ba hồi đủ bá quan.
Ra rạp ngồi trên ba đứa hiệu,
Vào buồng đứng dưới mấy ông làng.
Mượn màu son phấn: ông kia nọ,
Cởi lớp cân đai: lũ điếm đàng!
Tuy vậy nhưng mà coi cũng thú:
Ðã từng trợn mắt lại phùng mang!

 

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất