3.1 Cải Lương

Chìm nổi cải lương...

Thanh Tâm
20/06/2008

Miền Tây Nam bộ là chiếc nôi của cải lương, một thể loại ca kịch sân khấu dựa trên những điệu ca của đờn ca tài tử. Từ khi hình thành, cải lương luôn phát triển, dung hợp được tinh hoa của các thể loại khác làm phong phú thêm cho mình. Cải lương phát triển tuồng truyện theo kịch nói Tây phương như chia màn, hồi; thay đổi lối ước lệ tượng trưng của hát bội, trích đoạn các điệu ca của đờn ca tài tử, bổ sung dân ca để phong phú bài bản, thậm chí cả tân nhạc để phù hợp với thời đại. Cải lương chỉ mới hình thành không lâu, nhưng nó đã vượt trội nhiều thể loại ca kịch cũ. Nó đã vui buồn, nổi trôi cùng với bao thế hệ người Việt suốt từ Nam ra Bắc, khi thịnh khi suy, chìm nổi theo dòng thời gian...

Cải lương xuất phát từ thể loại đờn ca tài tử mà ra. Vào cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử đã phát triển hoàn chỉnh từ đờn, ca, bài bản. Người ca diễn cả tâm trạng của bài hát bằng những điệu bộ, gọi là lối ca ra bộ, là hiện tượng tự phát theo từng bài bản riêng một.

Ca ra bộ xuất hiện đầu tiên ở Vĩnh Long trong nhóm đờn ca tài tử của ông Tống Hữu Định. Nhưng khi nó được đưa lên sân khấu ở Mỹ Tho, để ra mắt quần chúng rộng rãi, thì mới được chú trọng. Lúc đó, ở TP Mỹ Tho có rạp chiếu bóng Casino của ông Châu Văn Tú, để lôi cuốn khách coi hát bóng (cinéma), Thầy 5 Tú mời nhóm đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều phụ diễn văn nghệ trước khi chiếu bóng. Các người ca đều ngồi trên bộ ngựa ở sân khấu, khi ca điệu Tứ đại oán của bài "Bùi Kiệm - Bùi Ông - Nguyệt Nga" của ông Trương Duy Toản viết (1885 - 1957) với bút hiệu Mạng Tử, các nhân vật đối đáp nhau:

Xem tiếp...

Quá trình hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương : Từ ca ra bộ đến hình thành

Nguyễn Ngọc Bạch

Cải lương là một hình thức ca kịch dân tộc. Nói đến ca kịch trước hết phải đề cập đến vấn đề âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Trước khi tìm hiểu về toàn bộ lịch sử nghệ thuật sân khấu cải lương, cần tìm hiểu gốc của nó, linh hồn của nó, tức là âm nhạc.

NHẠC CỔ

Theo các tài liệu xưa, dàn nhạc cổ Việt Nam đã có từ rất lâu đời. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Trước đây (1437), Lương Đăng và Nguyễn Trãi vâng mệnh định nhã nhạc. Nhạc tấu trên nhà có tám thanh như trống treo lớn, khánh, chuông, đàn cần, đàn sắt, kèn, sáo quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì ... Nhạc tấu dưới nhà thì có phương hưởng treo, không hầu, trống quản cổ, kèn quản dịch". Còn trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ chép: "Khoảng năm Hồng Đức nhà Lê (1470 – 1497) ... đặt ra hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn thì chuyên ghép âm luật để hòa nhạc, bộ Nhã nhạc thì chuyên chú về giọng người, trọng về tiếng hát, cả hai đều thuộc quyền quan thái thường coi xét. Đến như âm nhạc dân gian thì có đặt ty giáo phường coi giữ " ... "Từ đời Quang Hưng (1578 – 1599) về sau, hai bộ Đồng văn Nhã nhạc có dùng một loại trống lớn Ngưỡng thiên và một cái kèn lớn bằng trúc nạm vàng, cùng là cái long sinh long phách và các loại đàn ba dây, bốn dây hoặc mười lăm dây, cái ống sáo, cái trống cảnh một mặt, cái trống tang mỏng sơn son thiếp vàng, cái phách xâu tiền".

Xem tiếp...

Suy nghĩ về nhạc cải lương

Nguyễn Ngọc Bạch

Nói đến ca kịch dân tộc, người Việt Nam chúng ta có quyền hết sức tự hào. Chúng ta có hát bội (tuồng), chèo, cải lương, dân ca kịch Khu Năm, dân ca kịch Trị Thiên Huế, và một số dân ca kịch địa phương. Chúng ta tự hào vì nền ca kịch của dân tộc ta có truyền thống, phong phú và đa dạng. Điều đó chứng tỏ khả năng thẩm mỹ và yêu cầu thẩm mỹ của nhân dân ta rất cao.

Sân khấu cải lương là một ca kịch dân tộc. Nói đến ca kịch, trước hết phải đề cập đến âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Mở đường vào Nam, bên cạnh gươm giáo búa rìu – những dụng cụ để chiến đấu và sản xuất – tổ tiên chúng ta còn mang theo một nền văn hóa, trong đó có một vốn nhạc phong phú bao gồm: nhạc lễ (còn gọi là nhạc tụng đình), nhạc đồng bóng, nhạc nhà chùa và nhạc hát bội; đây là chưa kể vốn nhạc dân gian (dân ca truyền khẩu) sẵn có trong nhân dân.

Xem tiếp...

Nhớ một giọng ca vàng

Trần Dũng
11.6.2006

Năm đầu tiên của thập niên 1940, làng "dĩa đá" (thời gian này, các hãng dĩa âm nhạc Việt Nam mới ra đời, ghi âm và phát hành các giọng ca trên "dĩa đá" màu đen, "dĩa nhựa" mới có từ thập niên 1970 trở về sau) Sài Gòn cùng giới mộ điệu tri âm bộ môn tài tử cải lương bất ngờ đến mức ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một giọng ca nữ trẻ trung, lạ lẫm cùng một nghệ danh rất lạ: Cô Ba Trà Vinh. Trong dĩa vọng cổ "Dẫu có xa nhau rồi", giọng ca mới này có âm vực rộng, làn hơi đầy đặn, rõ chữ tròn vành, lúc nỉ non ai oán, khi thác dậy sóng trào... hòa cùng tiếng đờn kìm độc chiếc của thầy Hai Dậu - một danh cầm đất Trà Vinh - đã thổi một làn gió mới trong lành, nâng cao vị thế bài ca vọng cổ và các bài bản tài tử trong lòng người hâm mộ.

Kể từ đó, giới tài tử cải lương Việt Nam có thêm một nữ nghệ sĩ tài năng mang tên Cô Ba Trà Vinh, bên cạnh những Năm Phỉ, Phùng Há, Cô Năm Cần Thơ... Hồi ấy nhiều lá thư của thính giả khắp mọi miền đất nước tìm đến hãng dĩa Rồng Bạc với cùng một thắc mắc: Cô Ba Trà Vinh là ai?

Xem tiếp...

"Vua" vọng cổ Viễn Châu - Người khai sinh "tân cổ giao duyên"

28.12.2004

Nửa thế kỷ qua, nghệ sĩ Viễn Châu đã sáng tác hơn 50 vở cải lương và 2.000 bài ca vọng cổ. Ông là cây đại thụ hiếm hoi của nền nghệ thuật cổ truyền dân tộc thế kỷ XX còn lại đến hôm nay.

Mặc dù đã có một số lượng tác phẩm đồ sộ như vậy, nhưng đến nay lão nghệ sĩ vẫn không ngừng sáng tác. Ông xuất hiện thường xuyên trong các chương trình cổ nhạc hay làm giám khảo thi tuyển giọng ca cải lương.

Nhớ về thời tuổi trẻ, ông cho biết, gia đình chính là chiếc nôi khơi nguồn cảm hứng nghệ thuật cho mình: "Cha tôi là hương cả trong, làng, biết Hán văn, lại rất mê cổ nhạc. Anh em chúng tôi vừa lớn lên được ông nội và cha dạy cho Hán văn và khuyến khích chơi nhạc. Tôi rất thích chơi đờn tranh tài tử. Chính nhờ ngón đờn tranh đã nuôi sống tôi trong thời gian đầu lang thang lên Sài Gòn chơi nhạc".

Xem tiếp...

Tìm hiểu về bản vọng cổ

Phục Lư
14.12.2004

Bằng sức sống mãnh liệt của dân tộc, với tâm hồn và ý sống của bước đường mở cõi phương Nam, dòng nhạc tài tử Nam Bộ theo dòng đời mà hình thành, tồi tại và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Trên đà phát triển đó, năm 1919 tại Bạc Liêu, cố nhạc sư Cao Văn Lầu (thường gọi Sáu Lầu) đã sáng tác cho ra đời bản Dạ Cổ Hoài Lang gồm 20 câu, mỗi câu 2 nhịp, mang hơi nam và hơi oán. Bản này được giới nghệ sỹ đương thời chú trọng ưa thích và mau chóng đi vào lòng người. Đến năm 1927, tại Bạc Liêu, bản Dạ Cổ Hoài Lang được mở nhịp mỗi câu 4 nhịp và mang tên Vọng Cổ Hoài Lang. Đến năm 1940, bản Vọng Cổ Hoài Lang được mở nhịp 8 mỗi câu, mang tên là Vọng Cổ Bạc Liêu. Từ khoảng 1955, tại Sài Gòn, bản Vọng Cổ Bạc Liêu được tiếp tục mở nhịp 16, rồi nhịp 32. Khoảng năm 1964, có nơi mở nhịp 64. Và hiện nay thông dụng nhất là bản Vọng Cổ nhịp 32.

Dạ Cổ Hòai Lang, Ngọc Giàu ca


Qua khảo sát, nghiên cứu về căn gốc, về bước đường sáng tạo chỉnh lý thì phải nói bản Dạ Cổ Hoài Lang đã được giới nhạc sĩ, nghệ sĩ tài danh đầu tư rất nhiều công sức, vừa sử dụng, vừa nghiên cứu, phát huy đúng mức giai điệu độc đáo ban đầu, để rồi sáng tạo cho phong phú thêm. Điều đáng nói là, dù có sáng tạo, phát triển qua bao giai đoạn, nhưng người ta vẫn giữ được căn gốc, giữ được giai điệu, cái hồn của bản Dạ Cổ Hoài Lang buồn mang m1c, chất chứa niềm u uất, ai oán, thổn thức, nghe lòng vang nỗi buồn vạn kỷ.

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất