Lệ Thu: "Tôi đã chọn định mệnh ca hát"

Lệ Thu
13.9.2007

Nữ danh ca Lệ Thu và những tiết lộ ít ai biết về cuộc đời ca hát ngót 40 năm của mình.

Tôi đứng lặng trên sân khấu trước những tràng vỗ tay tưởng như không dứt của khán giả. Cuối cùng, tôi đã hội ngộ với khán giả quê nhà sau nhiều thăng trầm, biến cố. Những nghệ sĩ như tôi, dù sao vẫn thật may mắn khi xa cách đã lâu, nay trở về vẫn nguyên vẹn cảm giác như ngày xưa. Cứ như không hề có khoảng cách gần 20 năm và nửa vòng trái đất đối với tôi.

Trong đêmChiều nhạc thính phòng vừa rồi, tôi đã nói: " Quý vị ủng hộ Thu thế này, đúng như tử vi nói, Thu còn hát đến năm 72 tuổi!". Thế nhưng, nếu nói "định mệnh" phải nghĩ lại, dường như chính tôi đã chọn một định mệnh phải trở thành người của âm nhạc. Tôi phải là ca nhân, dù tất khởi đầu rất ngẫu nhiên, tình cờ.

Xem tiếp...

Nhạc sĩ Cung Tiến và những sáng tác và hoạt động âm nhạc trong những thập niên qua

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA1.4.2007

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Xem tiếp...

Khánh Ly - Trịnh Công Sơn: Sự gắn bó của định mệnh

2.9.2007

"Trịnh Công Sơn và tôi có một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường. Có thể có những giây phút anh Sơn không nhớ đến tôi, nhưng riêng tôi lúc nào cũng nhớ đến anh. Bởi anh là một nửa đời sống của tôi", ca sĩ Khánh Ly tâm sự.




Chị là một trong số những người ở hải ngoại biết được tin nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời sớm nhất. Cảm giác của chị khi được tin ấy ra sao?


Tôi không biết là trong trường hợp những người khác, cảm giác của họ khi nhận được tin một người thân vừa đi xa như thế nào. Nhưng lúc đó thì tôi như một người bị đông đá. Đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng và ngồi sững trên ghế cho đến khi nghe tiếng chồng tôi khóc. Lúc đó tôi mới tỉnh lại, tôi nói với nhà tôi: "Anh Sơn đi rồi!".

Xem tiếp...

Nguyên Thảo: một người Đà Lạt hát

Dương Thụ
2006

Nguyên ThảoNguyên Thảo là một cái tên còn xa lạ, album Suối & Cỏ của cô phát hành vào tháng 4-2006 cũng mới chỉ là album đầu tiên, vậy có gì để nói?

Chúng ta quen nói đến sự thành đạt mà ít quan tâm đến con đường dẫn đến nó, ít chịu tốn công phát hiện. Nguyên Thảo thật ra đã bắt đầu bước vào con đường của một người hát nhạc nhẹ thật sự, một ca sĩ có đẳng cấp chứ không phải của một ngôi sao công nghệ giải trí.

Hát không phải để chứng tỏ mình là người có giọng đẹp, có kỹ thuật "ta đây có học hành hẳn hoi" mà là để thỏa những gì chứa chất trong tâm hồn - điều không thể nói ra thành lời. Hát để tìm người tri kỷ, để chia sẻ những vui buồn, yêu thương, hờn giận và cả giấc mơ cùng niềm hi vọng với người nghe (cái quan trọng nhất để phân biệt giữa hát và "diễn"). Ca sĩ trẻ bây giờ "diễn" nhiều hát ít, có được người hát như thế là quí lắm.

Xem tiếp...

Quá trình hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương : Từ ca ra bộ đến hình thành

Nguyễn Ngọc Bạch

Cải lương là một hình thức ca kịch dân tộc. Nói đến ca kịch trước hết phải đề cập đến vấn đề âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Trước khi tìm hiểu về toàn bộ lịch sử nghệ thuật sân khấu cải lương, cần tìm hiểu gốc của nó, linh hồn của nó, tức là âm nhạc.

NHẠC CỔ

Theo các tài liệu xưa, dàn nhạc cổ Việt Nam đã có từ rất lâu đời. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Trước đây (1437), Lương Đăng và Nguyễn Trãi vâng mệnh định nhã nhạc. Nhạc tấu trên nhà có tám thanh như trống treo lớn, khánh, chuông, đàn cần, đàn sắt, kèn, sáo quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì ... Nhạc tấu dưới nhà thì có phương hưởng treo, không hầu, trống quản cổ, kèn quản dịch". Còn trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ chép: "Khoảng năm Hồng Đức nhà Lê (1470 – 1497) ... đặt ra hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn thì chuyên ghép âm luật để hòa nhạc, bộ Nhã nhạc thì chuyên chú về giọng người, trọng về tiếng hát, cả hai đều thuộc quyền quan thái thường coi xét. Đến như âm nhạc dân gian thì có đặt ty giáo phường coi giữ " ... "Từ đời Quang Hưng (1578 – 1599) về sau, hai bộ Đồng văn Nhã nhạc có dùng một loại trống lớn Ngưỡng thiên và một cái kèn lớn bằng trúc nạm vàng, cùng là cái long sinh long phách và các loại đàn ba dây, bốn dây hoặc mười lăm dây, cái ống sáo, cái trống cảnh một mặt, cái trống tang mỏng sơn son thiếp vàng, cái phách xâu tiền".

Xem tiếp...

Suy nghĩ về nhạc cải lương

Nguyễn Ngọc Bạch

Nói đến ca kịch dân tộc, người Việt Nam chúng ta có quyền hết sức tự hào. Chúng ta có hát bội (tuồng), chèo, cải lương, dân ca kịch Khu Năm, dân ca kịch Trị Thiên Huế, và một số dân ca kịch địa phương. Chúng ta tự hào vì nền ca kịch của dân tộc ta có truyền thống, phong phú và đa dạng. Điều đó chứng tỏ khả năng thẩm mỹ và yêu cầu thẩm mỹ của nhân dân ta rất cao.

Sân khấu cải lương là một ca kịch dân tộc. Nói đến ca kịch, trước hết phải đề cập đến âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Mở đường vào Nam, bên cạnh gươm giáo búa rìu – những dụng cụ để chiến đấu và sản xuất – tổ tiên chúng ta còn mang theo một nền văn hóa, trong đó có một vốn nhạc phong phú bao gồm: nhạc lễ (còn gọi là nhạc tụng đình), nhạc đồng bóng, nhạc nhà chùa và nhạc hát bội; đây là chưa kể vốn nhạc dân gian (dân ca truyền khẩu) sẵn có trong nhân dân.

Xem tiếp...

Nhớ một giọng ca vàng

Trần Dũng
11.6.2006

Năm đầu tiên của thập niên 1940, làng "dĩa đá" (thời gian này, các hãng dĩa âm nhạc Việt Nam mới ra đời, ghi âm và phát hành các giọng ca trên "dĩa đá" màu đen, "dĩa nhựa" mới có từ thập niên 1970 trở về sau) Sài Gòn cùng giới mộ điệu tri âm bộ môn tài tử cải lương bất ngờ đến mức ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một giọng ca nữ trẻ trung, lạ lẫm cùng một nghệ danh rất lạ: Cô Ba Trà Vinh. Trong dĩa vọng cổ "Dẫu có xa nhau rồi", giọng ca mới này có âm vực rộng, làn hơi đầy đặn, rõ chữ tròn vành, lúc nỉ non ai oán, khi thác dậy sóng trào... hòa cùng tiếng đờn kìm độc chiếc của thầy Hai Dậu - một danh cầm đất Trà Vinh - đã thổi một làn gió mới trong lành, nâng cao vị thế bài ca vọng cổ và các bài bản tài tử trong lòng người hâm mộ.

Kể từ đó, giới tài tử cải lương Việt Nam có thêm một nữ nghệ sĩ tài năng mang tên Cô Ba Trà Vinh, bên cạnh những Năm Phỉ, Phùng Há, Cô Năm Cần Thơ... Hồi ấy nhiều lá thư của thính giả khắp mọi miền đất nước tìm đến hãng dĩa Rồng Bạc với cùng một thắc mắc: Cô Ba Trà Vinh là ai?

Xem tiếp...

Khánh Ly nhớ Trịnh Công Sơn: Dường như vắng ai...

Khánh Ly
3/2006

Có nhiều nốt, tôi hát sai nhưng Anh không sửa, không nói gì, nên tôi cứ cho là mình đúng. Tới chừng nhạc in ra thì có người bảo tôi hát sai nhạc của Anh. Thì đúng là tôi hát sai, nhưng có thể lúc đó, dẫu biết tôi sai, nhưng Anh vẫn cảm thấy lọt tai, cũng được, hoặc Anh thấy tôi say mê với cái sai của mình, Anh không nỡ nói.


Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Xem tiếp...

Nghiêm cấm ca sĩ hát phá cách nếu nhạc sĩ chưa cho phép

3.3.2006

Đó là một trong những nội dung mà Sở VHTT TP.HCM thông báo với các đơn vị, cá nhân hoạt động tổ chức biểu diễn tại buổi báo cáo hoạt động công diễn trong 6 tháng cuối năm 2005 và đề ra phương hướng hoạt động 6 tháng đầu năm 2006 do Sở VHTT TP.HCM tổ chức vào chiều 2/3.

Trong phần tổng kết những trường hợp cần rút kinh nghiệm ở lĩnh vực ca múa nhạc thời trang, ông Võ Trọng Nam, Trưởng Phòng Quản lý nghệ thuật Sở VHTT TP.HCM, cho biết trong năm 2005 có một vài ca sĩ đã hát phá cách những ca khúc nổi tiếng ngoài phạm vi cho phép khi chưa được nhạc sĩ đồng ý. Điều này không được phép, bởi hành vi này xâm phạm nguyên tác của tác phẩm. Điển hình trong trường hợp này là ca sĩ Thanh Lam với ca khúc Một cõi đi về của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và ca sĩ Tiến Đạt với ca khúc Thì thầm mùa xuân của nhạc sĩ Ngọc Châu.

Nguồn: NLĐ

Hoàng Oanh, tiếng hát của giòng thơ nhạc giao duyên

Phạm Khanh
12/2005

Ngôi trường Gia Long áo tím huyền thoại, với khuôn viên nhiều lối đi rợp bóng mát là nơi đã ướp bao chất thơ, chất nhạc trong tâm hồn mới lớn của cô nữ sinh Huỳnh Kim Chi. Dưới mái trường "Phượng vĩ dâng hoa" đó, Kim Chi đã trải qua bảy năm học với mảnh bằng Tú Tài toàn phần hạng bình thứ. Vừa đi hát vừa đi học: đi học thì Kim Chi, đi hát thì Hoàng Oanh, tiếng hát của một loài chim quý. Bạn bè cùng trường cùng lớp đã xem là thần tượng, nhà trường thì hơi lo âu nhưng Kim Chi đã chu toàn được cả học lẫn hát, làm vừa lòng gia đình và thầy cô, đánh tan dư luận của nhà trường. Kim Chi là một nữ sinh nhu mì, ngoan hiền và chăm học... Rời trung học, Kim Chi tiếp tục vào ngưỡng cửa đại học Văn Khoa và cũng đã kết thúc với văn bằng Cử nhân văn chương. Kim Chi cũng có dự tính nối nghiệp thầy cô để "gõ đầu trẻ", nhưng vì bận rộn với tình nhạc và thơ lai láng nên giấc mộng mô phạm đó được tạm xếp một bên. Bởi đó, Hoàng Oanh đã mượn lời thơ tiếng nhạc trong một băng nhạc đầy ắp kỷ niệm thuở học trò mang chủ đề "Tuổi Học Trò" do chính cô thực hiện, để trải tấm lòng với thầy cô, với bạn bè và mái trường xưa thân ái. Hoàng Oanh nói: "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư... huống hồ Hoàng Oanh đã thọ giáo các 'sư phụ' mười lăm năm trời từ trường tiểu học Phú Nhuận, đến trường Gia Long và Đại học Văn Khoa Sàigòn. Ơn của thầy cô lớn lắm, Hoàng Oanh nhớ mãi. Đó là đạo thầy trò của phương Đông mà Tấy phương ít có được."

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất