Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần II: Sân khấu bài chòi

Nguyễn Lệ Uyên
13.6.2008

Cách giải trí và những sinh hoạt đơn điệu của bài chòi ban đầu chỉ có thể giữ một vai trò nhất định trong một thời gian nhất định. Đã đành, ảnh hưởng của nó đối với quần chúng là rất lớn, không thể phủ nhận. Song muốn tồn tại, không để bị quần chúng quay lưng khước từ, thì buộc nó phải tìm phương cách cải tiến, cách tân để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ và thưởng thức của quần chúng đòi hỏi ngày một cao. Trong chiều hướng này, đồng thời với việc phát triển không ngừng của xã hội, bắt buộc bài chòi cũng phải thay đổi theo cả hình thức lẫn nội dung. Chính điều này đã buộc các nghệ nhân phải tập hợp lại thành từng nhóm, lập bầu gánh riêng để lưu diễn. Cũng có đào kép, có tuồng tích bài bản hơn trước thay vì chỉ có vài người hô theo kiểu "tài tử" cho nhiều người nghe trước kia. Có sự tập hợp riêng lẻ, thế tất phải có sự phân ly, cạnh tranh giữa các gánh, đoàn về mặt nội dung và nghệ thuật, nhằm đạt giá trị cao hơn; để từ đó tự bản thân các nhóm, các gánh có sự sáng tạo trong cung cách diễn xuất ở cả hai mặt nội dung lẫn hình thức.

Xem tiếp...

Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần I: Hô bài chòi

Nguyễn Lệ Uyên
8.6.2008

Trong bài chòi được phân chia thành hai phần riêng biệt: Hô bài chòi và đánh bài chòi. Tuy nhiên hô hay đánh bài chòi thì cái nào xuất hiện trước, cái nào xuất hiện sau? Vấn đề này cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau và cũng từng gây nhiều tranh luận.

Theo chúng tôi, trong quá trình phát triển, khi các lưu dân trên đường xuôi nam, để giảm bớt nỗi nhọc nhằn đường xa thì không thể vừa đi vừa bày ra trò chơi, mà chỉ có thể xảy ra trong những lúc dừng chân nghỉ ngơi. Trong khi đó, họ có thể vừa đi vừa kể chuyện, hát hô. Nghĩa là hát hò hoàn toàn có khả năng tồn tại song song cùng một lúc với các thao tác lao động. Vì nếu không như thế, thì trong kho tàng dân ca Việt Nam sẽ không có những điệu hò giã gạo, hò cấy lúa, hò chèo thuyền.v.v. Các thao tác trong quá trình lao động đơn giản nhất sẽ giúp công việc đang thực hiện đạt hiệu quả cao một khi có những tác động âm thanh bên ngoài hay từ chính những người đang tham gia các thao tác đó mang đến. Rõ ràng điều này sẽ lý giải, có tính tương đối, rằng hô bài chòi xuất hiện trước đánh bài chòi. Mặt khác trong quá trình tồn tại và phát triển của bộ môn này, thì hô bài chòi có tính ngẫu hứng, chỉ cần một người cũng có thể tự nghĩ ra, tự sáng tác một điệu hát hô. Ngược lại, đánh bài chòi là môn giải trí mang tính tập thể, đòi hỏi phải có nhiều người tham gia, ở trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Trong khi hô hát thì có thể diễn ra bất kỳ nơi nào, một mình trên nương rẫy, trên chòi cao đang lúc canh giữ hoa màu hay năm bảy người trên đồng lúa nương dâu... để làm giảm nhẹ mệt nhọc do tác động của sức lao động cơ bắp.

Xem tiếp...

Nguồn gốc bài chòi Phú Yên

Nguyễn Lệ Uyên
21.5.2008

Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều nhất quán cho rằng bài chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của vùng đất nam Trung bộ. Tuy vậy bài chòi xuất hiện từ lúc nào? Cái nôi của nó ở đâu? Vẫn còn đang là vấn đề tồn nghi, gây nhiều tranh cãi. Cho đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào khẳng định về niên đại của nó. Hầu hết những ý kiến xoay quanh vấn đề này đều có tính chất giả định và ước đoán.

Cũng có những tài liệu căn cứ vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc ở một giai đoạn nhất định để gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của bài chòi theo chiều đồng đại và lịch đại. Trong khi đó, một vài tài liệu khác thì lại xác định về dấu mốc thời gian xuất hiện của bài chòi là điều tất yếu. Vì mỗi vùng, mỗi miền đều " hình thành những vùng văn hóa nghệ thuật với màu sắc khác nhau, thì nam Trung bộ là một trong những vùng như vậy" (Thụy Loan, TS Âm nhạc, Một Vài Suy Nghĩ Chung Quanh Vấn Đề Phát Triển Ca Kịch Bài Chòi, Tạp chí Nha Trang số 9, tháng 10 năm 1991).

Xem tiếp...

Đoàn Chuẩn - Gắng sống đến giọt thu cuối cùng

Vân Long
4.11.2007

 Đoàn ChuẩnTrong đêm Chương trình âm nhạc 4/11 vừa qua, giáo sư Dương Viết Á nhận xét: "Đoàn Chuẩn là nhạc sĩ cuối cùng của dòng nhạc lãng mạn Việt Nam"...

Được làm khách mời của chương trình Con đường âm nhạc (VTV3, Chủ nhật 4/11/07) giới thiệu về cuộc đời, ca khúc của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, với tư cách là người bạn vong niên đồng thời là người có hai bài thơ được nhạc sĩ phổ nhạc, nhưng tôi biết sân khấu là nơi thính giả muốn nghe hát không phải nghe những lời tâm sự...

Là người bạn vong niên của nhạc sĩ, vì tuổi tôi kém ông đúng một thập kỷ. Khoảng đầu đời, mười năm là khoảng cách lớn lắm! Năm tôi 20 tuổi, được ghé chơi violon trong một nhóm ca nhạc nghiệp dư, nhóm ca nhạc muốn đến gặp ông chủ rạp chiếu bóng Đại Đồng (nhạc sĩ Đoàn Chuẩn) để ông cho trình diễn 30 phút trước giờ chiếu phim, thì chỉ trưởng nhóm cùng một hai cô ca sĩ trẻ đẹp được tiếp xúc.

Xem tiếp...

Lê Dung: Người đàn bà vẫn hát…

Việt Tú
21/10/2007

Lê Dung yêu để chết, để đốt cháy mọi thứ như chính những gì chất chứa trong giọng hát của cô. Giọng hát ấy sẽ còn mãi bởi nó chạm đến tận cùng cảm xúc, nơi mà con người bất lực không thể diễn đạt được.



"Ôi! Ta đã yêu ta đã yêu. Ta đã yêu... "

Xem tiếp...

Lệ Thu: "Tôi đã chọn định mệnh ca hát"

Lệ Thu
13.9.2007

Nữ danh ca Lệ Thu và những tiết lộ ít ai biết về cuộc đời ca hát ngót 40 năm của mình.

Tôi đứng lặng trên sân khấu trước những tràng vỗ tay tưởng như không dứt của khán giả. Cuối cùng, tôi đã hội ngộ với khán giả quê nhà sau nhiều thăng trầm, biến cố. Những nghệ sĩ như tôi, dù sao vẫn thật may mắn khi xa cách đã lâu, nay trở về vẫn nguyên vẹn cảm giác như ngày xưa. Cứ như không hề có khoảng cách gần 20 năm và nửa vòng trái đất đối với tôi.

Trong đêmChiều nhạc thính phòng vừa rồi, tôi đã nói: " Quý vị ủng hộ Thu thế này, đúng như tử vi nói, Thu còn hát đến năm 72 tuổi!". Thế nhưng, nếu nói "định mệnh" phải nghĩ lại, dường như chính tôi đã chọn một định mệnh phải trở thành người của âm nhạc. Tôi phải là ca nhân, dù tất khởi đầu rất ngẫu nhiên, tình cờ.

Xem tiếp...

Nhạc sĩ Cung Tiến và những sáng tác và hoạt động âm nhạc trong những thập niên qua

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA1.4.2007

Nhạc sĩ Cung Tiến tên thật là Cung Thúc Tiến, sinh năm 1938 tại Hà Nội. Thời kỳ trung học, Cung Tiến học xướng âm và ký âm với hai nhạc sĩ nổi tiếng Chung Quân và Thẩm Oánh. Trong khoảng thời gian 1957 đến 1963, Cung Tiến du học ở Australia ngành kinh tế và ông có tham dự các khóa về dương cầm, hòa âm, đối điểm, và phối cụ tại nhạc viện Sydney.

Trong những năm 1970 đến 1973, với một học bổng cao học của Hội đồng Anh (British Council) để nghiên cứu kinh tế học phát triển tại đại học Cambridge, Anh, ông đã dự các lớp nhạc sử, nhạc học, và nhạc lý hiện đại tại đó.

Xem tiếp...

Khánh Ly - Trịnh Công Sơn: Sự gắn bó của định mệnh

2.9.2007

"Trịnh Công Sơn và tôi có một mối liên hệ cao hơn, đẹp đẽ, thánh thiện hơn là những tình cảm đời thường. Có thể có những giây phút anh Sơn không nhớ đến tôi, nhưng riêng tôi lúc nào cũng nhớ đến anh. Bởi anh là một nửa đời sống của tôi", ca sĩ Khánh Ly tâm sự.




Chị là một trong số những người ở hải ngoại biết được tin nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời sớm nhất. Cảm giác của chị khi được tin ấy ra sao?


Tôi không biết là trong trường hợp những người khác, cảm giác của họ khi nhận được tin một người thân vừa đi xa như thế nào. Nhưng lúc đó thì tôi như một người bị đông đá. Đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng và ngồi sững trên ghế cho đến khi nghe tiếng chồng tôi khóc. Lúc đó tôi mới tỉnh lại, tôi nói với nhà tôi: "Anh Sơn đi rồi!".

Xem tiếp...

Nguyên Thảo: một người Đà Lạt hát

Dương Thụ
2006

Nguyên ThảoNguyên Thảo là một cái tên còn xa lạ, album Suối & Cỏ của cô phát hành vào tháng 4-2006 cũng mới chỉ là album đầu tiên, vậy có gì để nói?

Chúng ta quen nói đến sự thành đạt mà ít quan tâm đến con đường dẫn đến nó, ít chịu tốn công phát hiện. Nguyên Thảo thật ra đã bắt đầu bước vào con đường của một người hát nhạc nhẹ thật sự, một ca sĩ có đẳng cấp chứ không phải của một ngôi sao công nghệ giải trí.

Hát không phải để chứng tỏ mình là người có giọng đẹp, có kỹ thuật "ta đây có học hành hẳn hoi" mà là để thỏa những gì chứa chất trong tâm hồn - điều không thể nói ra thành lời. Hát để tìm người tri kỷ, để chia sẻ những vui buồn, yêu thương, hờn giận và cả giấc mơ cùng niềm hi vọng với người nghe (cái quan trọng nhất để phân biệt giữa hát và "diễn"). Ca sĩ trẻ bây giờ "diễn" nhiều hát ít, có được người hát như thế là quí lắm.

Xem tiếp...

Quá trình hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương : Từ ca ra bộ đến hình thành

Nguyễn Ngọc Bạch

Cải lương là một hình thức ca kịch dân tộc. Nói đến ca kịch trước hết phải đề cập đến vấn đề âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Trước khi tìm hiểu về toàn bộ lịch sử nghệ thuật sân khấu cải lương, cần tìm hiểu gốc của nó, linh hồn của nó, tức là âm nhạc.

NHẠC CỔ

Theo các tài liệu xưa, dàn nhạc cổ Việt Nam đã có từ rất lâu đời. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Trước đây (1437), Lương Đăng và Nguyễn Trãi vâng mệnh định nhã nhạc. Nhạc tấu trên nhà có tám thanh như trống treo lớn, khánh, chuông, đàn cần, đàn sắt, kèn, sáo quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì ... Nhạc tấu dưới nhà thì có phương hưởng treo, không hầu, trống quản cổ, kèn quản dịch". Còn trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ chép: "Khoảng năm Hồng Đức nhà Lê (1470 – 1497) ... đặt ra hai bộ Đồng văn và Nhã nhạc. Bộ Đồng văn thì chuyên ghép âm luật để hòa nhạc, bộ Nhã nhạc thì chuyên chú về giọng người, trọng về tiếng hát, cả hai đều thuộc quyền quan thái thường coi xét. Đến như âm nhạc dân gian thì có đặt ty giáo phường coi giữ " ... "Từ đời Quang Hưng (1578 – 1599) về sau, hai bộ Đồng văn Nhã nhạc có dùng một loại trống lớn Ngưỡng thiên và một cái kèn lớn bằng trúc nạm vàng, cùng là cái long sinh long phách và các loại đàn ba dây, bốn dây hoặc mười lăm dây, cái ống sáo, cái trống cảnh một mặt, cái trống tang mỏng sơn son thiếp vàng, cái phách xâu tiền".

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất