Vua Nhạc Trẻ Trường Kỳ qua đời (1946-2009)

Lê Xuân Trường
22 tháng 3 năm 2009

Ông vua nhạc trẻ "Trường Kỳ" đã vĩnh viễn ra đi lúc 1 giờ trưa ngày 22 tháng 3 năm 2009 tại thành phố Toronto, Canada. Ký giả Kỳ Phát nhận được tin đầu tiên và kế đó là tôi từ ca sĩ Quốc Anh đang đi lưu diễn tại Canada.



Tôi, Kỳ Phát, và Nam Lộc đếu bàng hoàng khi nghe tin. Tôi liền gọi điện thoại về Việt Nam cho anh Tiến Chỉnh (tay bass guitar của ban nhạc Strawberry Four, cũng là người bạn rất thân với Trường Kỳ để nhắn giùm chị Huyền là hiền thê của anh trở về Canda gấp, để lo công việc.) Tôi vẫn còn bàng hoàng và thương tiếc người anh thân yêu của tôi mà đã bao lần cùng anh dấn thân vào con đường viết lách, và say mê âm nhạc đến tột độ. Nhân đây cho các bạn biết thêm về Trường Kỳ. tại Sao Trường Kỳ được mệnh danh là ông vua Nhạc Trẻ.

Xem tiếp...

Trò chuyện với Duy Cường về âm nhạc & Phạm Duy

Phạm Thị Thu Thủy
1/2009

(TT&VH Cuối tuần) - Dáng thư sinh mảnh khảnh và một cuộc sống ít nhiều khép kín, nhạc sĩ Duy Cường là một hình ảnh gần như trái ngược với người cha nổi tiếng của mình - nhạc sĩ Phạm Duy.

Sài Gòn - TP.HCM một chiều cuối năm se se, lần đầu tiên nhạc sĩ Duy Cường cởi mở những câu chuyện về bản thân, về gia đình, về người bố nổi tiếng của anh.

Nhạc sĩ Phạm Duy từng cấm các con theo nghề nhạc

* Gia đình nhạc sĩ Phạm Duy có cả thảy 8 người con: Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng, Duy Cường, Thái Hiền, Thái Hảo, Duy Đức và Thái Hạnh, có ai không theo nghề nhạc không thưa anh ?

Xem tiếp...

Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối

Lê Hữu
12/2008

* Gửi Lara


"Anh cho em mùa xuân
nhạc, thơ tràn muôn lối..."
(Nguyễn Hiền & Kim Tuấn)

Nguyễn Hiền
Nhạc sĩ Nguyễn Hiền

" Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về, thấy trên bàn giấy có một tập thơ mỏng, tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ năm chữ 'Nụ hoa vàng ngày xuân'. Ðọc qua thấy hay hay và đang lúc lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề, tôi nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn, tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay, và chỉ độ một, hai tiếng là xong bài nhạc. Xong, tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc... Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết, 'Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài, nhưng không gặp được anh.' Tôi nói, 'Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong.' Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra và... hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc, 'Anh cho em mùa xuân'..."

Xem tiếp...

Hoàng Oanh, tiếng hát và giọng ngâm thơ được nhiều mến chuộng

Thy Nga, phóng viên đài RFA
2008-08-17

Tiếp nối câu chuyện với nữ ca sĩ Hoàng Oanh, Thy Nga nói với chị là trong khi tìm tài liệu để viết về chị, Thy Nga đọc thấy những câu trao đổi giữa các "fan", họ muốn biết thêm chi tiết mà ít thấy đăng tải về người nữ ca sĩ mà họ hâm mộ.

{play}http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SingerHoangOanh_ThyNga-08172008140832.html/vanct081708.mp3{/play}

Không những giới trung niên (là những người yêu chuộng từ trước 1975) mà giới trẻ sau này cũng mến tiếng hát ngọt ngào của Hoàng Oanh. Thật thế, khi Hoàng Oanh xuất hiện trên màn ảnh nhỏ, hay trên sân khấu, chị rất dễ chiếm cảm tình của khán thính giả.

Điểm đặc biệt nơi Hoàng Oanh là nụ cười chúm chím, vẫn như thuở nào. Và mỗi khi đưa tay ra diễn tả lời hát, dường như Hoàng Oanh vẫn ngượng ngập sao đó, dù rằng đi hát đã bao năm rồi. Hay là ... phong cách của Hoàng Oanh là thế.

Điểm đặc biệt nữa: Hoàng Oanh là người miền Nam vậy mà phát âm đúng khi hát tiếng Bắc, lại ngâm thơ lối Bắc nữa.

Diễn ngâm "Ai lên xứ hoa đào"...

Xem tiếp...

Chìm nổi cải lương...

Thanh Tâm
20/06/2008

Miền Tây Nam bộ là chiếc nôi của cải lương, một thể loại ca kịch sân khấu dựa trên những điệu ca của đờn ca tài tử. Từ khi hình thành, cải lương luôn phát triển, dung hợp được tinh hoa của các thể loại khác làm phong phú thêm cho mình. Cải lương phát triển tuồng truyện theo kịch nói Tây phương như chia màn, hồi; thay đổi lối ước lệ tượng trưng của hát bội, trích đoạn các điệu ca của đờn ca tài tử, bổ sung dân ca để phong phú bài bản, thậm chí cả tân nhạc để phù hợp với thời đại. Cải lương chỉ mới hình thành không lâu, nhưng nó đã vượt trội nhiều thể loại ca kịch cũ. Nó đã vui buồn, nổi trôi cùng với bao thế hệ người Việt suốt từ Nam ra Bắc, khi thịnh khi suy, chìm nổi theo dòng thời gian...

Cải lương xuất phát từ thể loại đờn ca tài tử mà ra. Vào cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử đã phát triển hoàn chỉnh từ đờn, ca, bài bản. Người ca diễn cả tâm trạng của bài hát bằng những điệu bộ, gọi là lối ca ra bộ, là hiện tượng tự phát theo từng bài bản riêng một.

Ca ra bộ xuất hiện đầu tiên ở Vĩnh Long trong nhóm đờn ca tài tử của ông Tống Hữu Định. Nhưng khi nó được đưa lên sân khấu ở Mỹ Tho, để ra mắt quần chúng rộng rãi, thì mới được chú trọng. Lúc đó, ở TP Mỹ Tho có rạp chiếu bóng Casino của ông Châu Văn Tú, để lôi cuốn khách coi hát bóng (cinéma), Thầy 5 Tú mời nhóm đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều phụ diễn văn nghệ trước khi chiếu bóng. Các người ca đều ngồi trên bộ ngựa ở sân khấu, khi ca điệu Tứ đại oán của bài "Bùi Kiệm - Bùi Ông - Nguyệt Nga" của ông Trương Duy Toản viết (1885 - 1957) với bút hiệu Mạng Tử, các nhân vật đối đáp nhau:

Xem tiếp...

Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần IV: Những lá bài và kết quả của sự giao thoa văn hóa Việt – Chăm

Nguyễn Lệ Uyên
17.6.2008

Khi cầm bộ bài chòi 27 lá trên tay, nhiều người vẫn băn khoăn tự hỏi rằng: hình vẽ trong các lá bài là biểu tượng của những con gì, vật gì? Hay đó chỉ là những nét vẽ nguệch ngoạc, vẽ cho có chuyện để phân biệt giữa lá này và lá khác, bỡi "nét bút không bí hiểm vì cố nói những ý nghĩ cao xa, mà là vì không đủ sức để nói lên một ý nghiã nào" (Võ Phiến, Tập san Tân Văn, số 1, SG 1968).

Một giả thiết khác được ông Tạ Chí Đại Trường đưa ra, căn cứ trên sự phát triển văn hoá cho riêng từng khu vực và các khu vực với nhau: "... đối chiếu các điểm tròn, các hình như khúc dồi cấu tạo nên các chữ số của văn minh Maya với các nút tròn của bộ bài chòi, ta thấy có một chút hơi hướng tương quan. Có phải khi văn minh Trung Mỹ sụp đổ vì bọn Conquistador, và trước đó xa lắc xa lơ, Trung Hoa tách đi theo một đường lối trang trí dồi dào đường nét uyển chuyển hơn thì một ít kiểu mẫu vẫn còn lại trên bán đảo Đông Dương để tiếp đề tài cho người thợ vẽ vụng dại miền quê Bình Định nguyệch ngoạc trên các lá bài không?" ( Tạ Chí Đại Trường, Bài chòi ở Bình Định, Tập san Sử Địa số 5, SG 1967).

Xem tiếp...

Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần III: Đánh bài chòi

Nguyễn Lệ Uyên
15.6.2008

Trong dân gian, có câu gian ca mà hẳn những người sành điệu ngày trước ai cũng thuộc, vì đó là câu hát dành nói về họ:

Làm trai biết đánh tổ tôm
Mê ngựa Hậu Bổ xem nôm Thúy Kiều.

Còn học giả Đào Duy Anh thì nói: Ở nhà quê người ta thường hay đánh bài tam cúc, đánh bất, đánh chắn, đánh chẵn lẻ, đánh quay đất, đánh thò lò. Những lối cờ bạc đông người thì có xóc đĩa, hốt me (Đường Trong) hay đánh thán (Đường Ngoài), nhất lục.v.v. Còn đánh thai và đánh thơ cũng là cách đánh bạc đông người, nhưng có tánh chất tao nhã mà chỉ những người văn học mới chơi được" (Đào Duy Anh, Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, NXB Bốn Phương, SG 1951).

Trong số những môn giải trí còn được phân biệt theo đẳng cấp. Có môn thanh cao, tao nhã, có môn hạ tiện. Môn giải trí của bậc vương giả và của đám tiện dân không thể ngồi chung chiếu. Đó là cách hiểu theo cái nhìn từ con mắt của những người ở chiếu trên. Người bình dân ít học thì không thể đánh thơ, thả thơ như các nhân vật của nhà văn Nguyễn Tuân. Nhưng ngược lại, cụ Nguyễn Du đang đêm có thể lén qua bên kia sông hát ví, hát dặm với các thôn nữ.

Xem tiếp...

Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần II: Sân khấu bài chòi

Nguyễn Lệ Uyên
13.6.2008

Cách giải trí và những sinh hoạt đơn điệu của bài chòi ban đầu chỉ có thể giữ một vai trò nhất định trong một thời gian nhất định. Đã đành, ảnh hưởng của nó đối với quần chúng là rất lớn, không thể phủ nhận. Song muốn tồn tại, không để bị quần chúng quay lưng khước từ, thì buộc nó phải tìm phương cách cải tiến, cách tân để phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ và thưởng thức của quần chúng đòi hỏi ngày một cao. Trong chiều hướng này, đồng thời với việc phát triển không ngừng của xã hội, bắt buộc bài chòi cũng phải thay đổi theo cả hình thức lẫn nội dung. Chính điều này đã buộc các nghệ nhân phải tập hợp lại thành từng nhóm, lập bầu gánh riêng để lưu diễn. Cũng có đào kép, có tuồng tích bài bản hơn trước thay vì chỉ có vài người hô theo kiểu "tài tử" cho nhiều người nghe trước kia. Có sự tập hợp riêng lẻ, thế tất phải có sự phân ly, cạnh tranh giữa các gánh, đoàn về mặt nội dung và nghệ thuật, nhằm đạt giá trị cao hơn; để từ đó tự bản thân các nhóm, các gánh có sự sáng tạo trong cung cách diễn xuất ở cả hai mặt nội dung lẫn hình thức.

Xem tiếp...

Tiến trình phát triển của bài chòi : Phần I: Hô bài chòi

Nguyễn Lệ Uyên
8.6.2008

Trong bài chòi được phân chia thành hai phần riêng biệt: Hô bài chòi và đánh bài chòi. Tuy nhiên hô hay đánh bài chòi thì cái nào xuất hiện trước, cái nào xuất hiện sau? Vấn đề này cũng có nhiều ý kiến trái ngược nhau và cũng từng gây nhiều tranh luận.

Theo chúng tôi, trong quá trình phát triển, khi các lưu dân trên đường xuôi nam, để giảm bớt nỗi nhọc nhằn đường xa thì không thể vừa đi vừa bày ra trò chơi, mà chỉ có thể xảy ra trong những lúc dừng chân nghỉ ngơi. Trong khi đó, họ có thể vừa đi vừa kể chuyện, hát hô. Nghĩa là hát hò hoàn toàn có khả năng tồn tại song song cùng một lúc với các thao tác lao động. Vì nếu không như thế, thì trong kho tàng dân ca Việt Nam sẽ không có những điệu hò giã gạo, hò cấy lúa, hò chèo thuyền.v.v. Các thao tác trong quá trình lao động đơn giản nhất sẽ giúp công việc đang thực hiện đạt hiệu quả cao một khi có những tác động âm thanh bên ngoài hay từ chính những người đang tham gia các thao tác đó mang đến. Rõ ràng điều này sẽ lý giải, có tính tương đối, rằng hô bài chòi xuất hiện trước đánh bài chòi. Mặt khác trong quá trình tồn tại và phát triển của bộ môn này, thì hô bài chòi có tính ngẫu hứng, chỉ cần một người cũng có thể tự nghĩ ra, tự sáng tác một điệu hát hô. Ngược lại, đánh bài chòi là môn giải trí mang tính tập thể, đòi hỏi phải có nhiều người tham gia, ở trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Trong khi hô hát thì có thể diễn ra bất kỳ nơi nào, một mình trên nương rẫy, trên chòi cao đang lúc canh giữ hoa màu hay năm bảy người trên đồng lúa nương dâu... để làm giảm nhẹ mệt nhọc do tác động của sức lao động cơ bắp.

Xem tiếp...

Nguồn gốc bài chòi Phú Yên

Nguyễn Lệ Uyên
21.5.2008

Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu văn học dân gian đều nhất quán cho rằng bài chòi là một sản phẩm văn hóa rất độc đáo của vùng đất nam Trung bộ. Tuy vậy bài chòi xuất hiện từ lúc nào? Cái nôi của nó ở đâu? Vẫn còn đang là vấn đề tồn nghi, gây nhiều tranh cãi. Cho đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào khẳng định về niên đại của nó. Hầu hết những ý kiến xoay quanh vấn đề này đều có tính chất giả định và ước đoán.

Cũng có những tài liệu căn cứ vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc ở một giai đoạn nhất định để gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của bài chòi theo chiều đồng đại và lịch đại. Trong khi đó, một vài tài liệu khác thì lại xác định về dấu mốc thời gian xuất hiện của bài chòi là điều tất yếu. Vì mỗi vùng, mỗi miền đều " hình thành những vùng văn hóa nghệ thuật với màu sắc khác nhau, thì nam Trung bộ là một trong những vùng như vậy" (Thụy Loan, TS Âm nhạc, Một Vài Suy Nghĩ Chung Quanh Vấn Đề Phát Triển Ca Kịch Bài Chòi, Tạp chí Nha Trang số 9, tháng 10 năm 1991).

Xem tiếp...

Lời Bàn Mới

Đăng Nhập/Xuất